HT Thanh Từ

HT Thích Thanh Từ, còn được gọi là HT Trúc Lâm, là người đã khôi phục lại Thiền Tông vốn được truyền thừa từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni qua các đời Tổ Sư ở Ấn Độ, Trung Hoa, và đến Việt Nam với trường phái Trúc Lâm Yên Tử, có sơ Tổ là Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Những lời dạy của ngài giản dị, dễ hiểu, và có tính ứng dụng cao trong đời sống tu tập hằng ngày.1292242_1673650239552767_2603042909336324721_o************

Pháp tu biết vọng không theo

HỎI: Thưa Thầy, có người nói "pháp tu biết vọng bị cột vào cái vọng không thoát ra được". Xin Thầy dạy rõ pháp tu này, đồng thời cho biết tu "biết vọng" có bị cột vào cái vọng hay không cột vào cái vọng để hạng mới tập tu như chúng con thực hành không bị hoang mang.

_(())_ Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

ĐÁP: Pháp tu biết vọng là đường lối chủ trương của thiền viện. Chúng tôi dạy biết vọng là chặng thứ nhất. Chặng thứ hai thấy vọng tưởng không theo. Tại sao chặng đầu lại biết vọng? Vì tất cả chúng ta, từ người ít học cho đến hàng học giả trí thức, đều nhận cái suy nghĩ hiểu biết phân biệt là tâm mình, nên vừa khởi suy nghĩ là theo nó, cả ngày cứ sống trong vọng tưởng điên đảo không dừng được. Bây giờ muốn dừng không theo nó nữa, Phật dạy có nhiều cách tu để dừng, nhưng ở đây chúng tôi ứng dụng cách nhìn thẳng nó để dừng.

Từ thuở nào, vọng tưởng dấy chúng ta cho rằng tâm tôi nghĩ thế này, tâm tôi nghĩ thế kia. Bây giờ chúng ta tu để dừng nó, bước đầu phải biết cái nghĩ suy là vọng tưởng, không phải tâm mình để phá cái lầm từ bấy lâu nay. Đó là bước thứ nhất tỉnh giác. Tuy biết nó là vọng tưởng, nhưng chúng ta vẫn còn vọng động chạy theo. Muốn đối trị cái bệnh muôn đời này phải làm sao? Trong mười mục Tranh Chăn Trâu. Bước đầu tìm thấy được trâu, tuy đã thấy trâu, nhưng trâu vẫn hung hăng chạy ngược chạy xuôi. Mục đồng phải xỏ mũi, phải cầm roi, một tay lôi, một tay đánh, khả dĩ trâu mới bớt chạy ngược chạy xuôi. Trâu còn hung hăng chạy ngược chạy xuôi, mà nhìn nó cười làm sao nắm được cổ nó? Chừng nào mới lôi đầu nó được? Cũng vậy, vọng tưởng cứ khởi hoài chúng ta phải la rầy, lâu dần nó mới thuần từ từ. Khi vọng tưởng dấy lên chúng ta biết nó không theo, chẳng khác nào con trâu bị xỏ mũi dẫn đi. Khi nó chịu theo mình rồi, mình chỉ cần nắm dây mũi, mình đi đâu là nó theo đó. Và khi đã thuần thục rồi mình nhìn thấy rõ ràng không có niệm khởi, nhưng mình vẫn còn nhìn. Đó là bức tranh trâu mất mục đồng còn. Khi đã hoàn toàn thuần thục không còn một vọng niệm thì không cần nhìn nữa. Bấy giờ con trâu và người chăn không còn. Đó là những bước tiến của mỗi giai đoạn.

Thiền là đốn ngộ, nhưng vì chúng ta còn mê quá làm sao đốn ngộ được? Đốn ngộ không được chẳng lẽ không tu. Vì vậy mà chúng ta phải ứng dụng tu từ từ, khi đã thuần thục rồi thì năng sở không còn. Tuy nhiên, chưa phải là xong việc. Pháp tu biết vọng ở giai đoạn đầu còn dùng trí để nhìn, thấy vọng tưởng là hư dối không thật mà từ lâu lầm chấp cho là tâm mình. Đó là mình đã tỉnh, sống với trí tuệ. Còn quán là còn động, nhưng động của trí quán chớ không phải vọng động của mê tình.

Tôi ví dụ có một người khách xa lạ tới nhìn bà con, xin ở chung nhà và xin vô hộ khẩu với mình. Mình thật thà nhận người ấy là bà con cho vô hộ khẩu và cho ở chung nhà. Một thời gian sống chung người đó ăn cắp phá hoại của cải của mình. Mình khổ sở quá, bây giờ phải làm sao đây? Nếu cứ nghĩ người đó là người thân thì của cải tiếp tục mất và mình thì khổ dài dài. Thế nên giai đoạn thứ nhất phải biết người này là người khách xa lạ, không phải quyến thuộc của mình, là một kẻ trộm cắp. Mọi hành động của anh ta mình phải xem chừng. Vì nhìn chừng anh ta hoài, anh ta không lấy được nên mình không bị mất đồ. Tuy nhiên, chưa gạt hộ khẩu, anh ta vẫn còn ở trong nhà nên mình vẫn chưa yên. Chờ một thời gian, bắt được quả tang anh ta lấy trộm đồ, chừng đó đưa anh ta ra làng xã cắt hộ khẩu và đuổi anh ta ra khỏi nhà. Lúc đó mình mới yên ổn.

Giai đoạn đầu của pháp biết vọng là phải tỉnh. Như tôi đã nói, trước phải biết những ý niệm nghĩ suy tính toán là vọng tưởng, khi quở khi rầy để nó nhẹ nhàng và thưa dần. Đây là giai đoạn tâm còn động, song cái động này là động của trí, chớ không phải động của mê chấp, tuy động mà không phải lỗi. Khi vọng tưởng hết, cái quan sát vọng tưởng cũng buông luôn thì đâu có muộn. Tất cả pháp môn tu của Phật, giai đoạn đầu đều phải dùng phương tiện đối trí tương đối, sau đó tâm thuần thục rồi mới buông bỏ pháp đối trị tương đối. Nếu nói dùng pháp tu còn đối đãi tu không được thì không đúng. Vì tất cả tập khí si mê muôn đời mà không có pháp đối trị để trừ thì làm sao nó tiêu mòn? Thế nên bước đầu phải dùng phương tiện đối trị để tu. Pháp tu "biết vọng" xuất xứ từ bài kinh "Có Pháp Môn Nào" trong Tương Ưng bộ, Phật đã nói từ lúc Ngài còn tại thế, đến Tổ Bồ-đề-đạt-ma và Huệ Khả triển khai rộng ra. Câu chuyện này tôi thường kể có lẽ quý vị đã thuộc lòng. Một hôm, ngài Huệ Khả tự thấy tâm mình bất an, mới thưa rõ với Tổ Bồ-đề-đạt-ma:

– Bạc Hòa thượng, tâm con bất an. Xin hòa thượng dạy con pháp an tâm.

– Ngươi đem tâm ra đây ta an cho.

Huệ Khả xoay lại tìm tâm, tìm mãi mà không thấy tâm ở đâu. Ngài mới thưa:

– Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Tại sao Huệ Khả tìm tâm không được mà Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói "Ta đã an tâm cho ngươi rồi"? Vì bấy lâu nay ai cũng cho vọng tưởng là tâm mình, nên nó làm nhiễu loạn bất an. Bây giờ tìm lại, nó lặng mất không còn một dấu vết, vậy là đã an rồi. Hằng ngày, chúng ta tu thấy vọng tưởng, biết vọng tưởng không thật không theo, nó tự lặng thì tâm không động yên ổn. Hoặc không quán nó là vọng tưởng mà nhìn coi nó xuất phát từ đâu, nó cũng tự lặng mất. Tu miên mật như thế một thời gian sẽ thuần thục, bấy giờ khỏi quở, khỏi rầy, khỏi tìm chỗ xuất phát của vọng tưởng, mà tâm vẫn an nhiên lặng lẽ. Vọng tưởng là khách, tánh hằng biết là chủ. Tu tuần tự như thế không sai không trái với tinh thần Thiền tông, lại hợp với kinh điển Phật dạy. Quý vị đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Lăng Già hay những kinh khác đều thấy tinh thần này Phật dạy rõ ràng.

*** Trích ( NHỮNG CÁNH HOA ĐÀM ) – http://thientruclam.info

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 1: Hành giả, và học giả

“…Trong đạo có hai hạng người học Phật, một là học giả, hai là hành giả. Học giả là người dùng tâm suy nghĩ để nghiên cứu nghiền ngẫm giáo lý của Phật, còn hành giả là học phương pháp của Phật dạy để ứng dụng tu thể nhập được lý đạo. Hai hạng người đó khác nhau, một bên dùng trí suy tư để mong hiểu Phật, một bên dùng pháp Phật dạy để định tâm mình, mong ngộ lẽ thật. Hai hạng người đó đối với kinh Viên giác người nào trúng? – Người ứng dụng tu hành. Thế mà có nhiều người nghe nói ông đó có bằng Tiến sĩ Phật học thì cũng khen tấm tắc: Chà ông đó cao quá! Hay quá! Nhưng mà hay thật chưa? Giá trị thật không phải ở cấp bằng mà ở chỗ có dừng được tâm điên đảo của mình hay không? Trong giới tu hành hiện nay hay vấp phải cái lỗi đó, lấy cái học làm trên. Nếu lấy cái học làm trên thì sự “thật chứng” không có. Không sự chứng ngộ thì làm sao thể nhập chân lý? Làm sao mồi được ngọn đuốc tuệ của Phật để soi đường cho chúng sanh đang đi trong đêm tối? Không có những bậc tu chứng thì lấy ai tiếp nối duy trì Phật pháp? Sau khi Phật niết-bàn, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất toàn là những bậc đắc quả A-la-hán dự. Lúc đó ngài A-nan chưa đắc quả bị ngài Đại Ca-diếp từ chối không cho vào, mặc dầu Ngài biết nếu không có ngài A-nan thì không ai trùng tuyên lại Tạng kinh được.

Lại có những vị vô chùa cạo tóc rồi ôm sách tới trường, học năm mười năm ra giảng đạo, lên Thượng tọa rồi tới già chết. Như vậy, chừng nào thấy được lẽ thật? Chủ yếu của người học đạo là học cho biết để thực hành, chớ không phải lấy kiến giải làm sở đắc, nếu lấy kiến giải làm sở đắc, thì ngàn đời không thấy được chân lý! Hậu vận Phật giáo sẽ ra sao nếu trong giới tu sĩ không có những người thật chứng ngộ? Có nhiều quyển sách của các học giả viết về đạo Phật, lý luận làm cho người đọc thêm rối, đưa người đọc lạc vào rừng ngôn ngữ không biết lối ra. Muốn hiểu đạo lý, muốn giải thoát sanh tử thì học rồi phải thực hành, mới mong thấy được manh mối của sự giải thoát, đó là Giải hạnh tương ưng…”

(trích Kinh Viên Giác – Chương IV "Bồ Tát Kim Cang Tạng Thưa Hỏi" _ HT. Trúc Lâm, ngài còn được gọi là HT Thích Thanh Từ dịch và giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 2: Cái chơn và cái giả

"…Một số người cứ ngỡ rằng vào Niết-bàn là vào một cảnh giới rực rỡ, có đủ thứ tốt đẹp. Tưởng Niết-bàn như vậy là Niết-bàn tưởng tượng. Niết-bàn là vô sanh, vô sanh mà hằng tri hằng giác, chứ không phải vô sanh mà vô tri vô giác. Cái hằng tri hằng giác đó cũng gọi là Phật tánh. Như vậy nhận được cái vô sanh hằng tri giác là nhập được Phật tánh của mình. Nếu nhập được Phật tánh của mình thì gọi là Phật. Chúng ta cứ mong thành Phật, được ngồi trên tòa sen có hào quang rực rỡ, nhưng không biết ông Phật đó là Phật sanh tử. Phật Pháp thân thì không có hình tướng.

Cho nên người biết tu sẽ được kết quả rất cụ thể, còn người không biết tu, hết nghĩ chuyện này đến chuyện nọ liên miên, nên không có kết quả. Trong khi cái biết thầm lặng luôn ở bên mình lại không hay, không nhớ tới. Do không nhận được cái hằng tri hằng giác thầm lặng ấy, nên chỉ nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ phải nghĩ quấy, cho đó là tâm. Chấp giữ khư khư thân sinh diệt và tâm sinh diệt là mình thì trách gì không đi trong luân hồi sanh tử muôn kiếp. Bởi cho cái sinh diệt là mình nên vừa mất cái sinh diệt này liền ôm cái sinh diệt khác, cứ liên miên như vậy, chịu vô lượng khổ đau, không có ngày ra khỏi.

Nếu biết rõ thân này vô thường sinh diệt, tâm phân biệt hơn thua phải quấy cũng vô thường sinh diệt; chỉ có cái hằng tri hằng giác, không hình không tướng đó mới thật là mình, thì đâu còn chạy theo hay chấp giữ cái vô thường sanh diệt làm gì nữa. Ngay đây dừng lại tất cả vọng tưởng đảo điên, thân tâm an vui, tự tại. Đó chính là con đường đi đến Phật đạo".

(trích "Con Đường Đi Đến Phật Đạo" – Hòa thượng Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 3: Khoảng lặng

"…Ai cũng nói tâm là cái biết, là phần tinh thần của mình. Như vậy khi khởi nghĩ phân biệt hơn thua, phải quấy, tốt xấu là chân hay giả? Khi vọng tưởng thứ nhất lặng, chừng một giây hay hai giây vọng tưởng thứ hai dấy lên, thì khoảng trống giữa cái thứ nhất với cái thứ hai đó, chúng ta hữu tri hay vô tri? Hữu tri tức là có tâm. Vọng tưởng dấy lên thì có suy nghĩ, cái suy nghĩ đó là động. Mỗi một niệm dấy lên là động, động là tướng sinh diệt. Khi nó lặng, khoảng giữa này không dài, nhưng vẫn có một khoảng giữa trước khi niệm thứ hai dấy lên. Khoảng giữa đó, nếu không có tri thì niệm thứ hai dấy lên mình không thấy. Nhưng niệm thứ hai vừa trồi đầu lên, mình thấy liền, như vậy trong khoảng giữa đó có tri hay vô tri? Có tri. Cái tri của khoảng giữa đó là cái tri bất sinh bất diệt.

Khi chúng ta khởi nghĩ nhớ ba, nhớ má, thì hình bóng ba má hiện ra. Ta liền nói “vọng, buông!”. Buông thì nó lặng xuống, im lìm được một chút lại dấy lên nhớ chú, nhớ bác. Khi đó hình dáng chú, bác hiện ra. Như vậy khoảng giữa của hai niệm là cái biết không sinh diệt. Như vậy ngồi thiền hai tiếng đồng hồ, giả sử có hai trăm lần vọng tưởng, mất đi một tiếng đồng hồ, còn lại một tiếng lặng lẽ, quý vị đang làm gì, ở đâu? Chỗ này phải nhìn cho thật sâu mới thấy hết giá trị của nó. Trong hai trăm lần vọng tưởng mất một giờ động, nhưng cũng có một giờ tịnh, phải không?

Một giờ tịnh là không mê. Vừa dấy niệm chúng ta liền thấy, đó là yên tịnh trong cái rõ ràng thường biết. Góp lại từng chặng từng chặng rõ ràng thường biết đó được một giờ, như vậy buổi ngồi thiền đó hữu ích hay vô ích? Tối thiểu chúng ta cũng được một giờ yên tịnh. Vậy mà chúng ta cứ nhớ hai trăm lần vọng tưởng, bỏ quên cái khoảng lặng quý giá đó, nên cho rằng mình tu sao chỉ thấy toàn vọng tưởng, không được thanh tịnh giây phút nào…"

(trích "Con Đường Đi Đến Phật Đạo" – Hòa thượng Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 4: Ông như vậy, ta như vậy, chư Phật cũng như vậy

"…Niệm khởi là duyên, hết các duyên mà rõ ràng thường biết, đó chính là chỗ Tổ Bồ-đề-đạt-ma ấn chứng cho Tổ Huệ Khả. Ấn chứng bằng cách “ông như thế, ta như thế”, tức ta và ông không khác nhau. Chẳng những ông như thế, ta như thế, mà chư Phật cũng như thế luôn. Ba bốn con dấu giống hệt nhau. Đó là ấn chứng sâu đậm. Hiểu tới nơi rồi chúng ta mới thấy giá trị của sự tu.

Người không biết tu thì cảm thấy sự tu như vô ích. Năm ngoái ngồi cũng vọng tưởng, năm nay ngồi cũng vọng tưởng, chắc năm mười năm nữa cũng vọng tưởng! Tu như vậy buồn chết. Phải thấy năm ngoái trong một giờ bao nhiêu lần vọng tưởng, năm nay một giờ bao nhiêu lần vọng tưởng. Nó thưa từ từ. Thưa vọng tưởng từ từ, thì ông chủ hiện ngày càng rõ hơn. Vọng tưởng càng vắng, ông chủ càng hiện, chứ có thiếu chỗ nào. Nên biết giờ ngồi thiền không phải thiệt thòi. Chẳng những giờ ngồi thiền thôi, cho tới giờ đi tưới hoa, nhổ cỏ, nấu cơm, lặt rau v.v… cũng biết rõ từng niệm khởi. Đó là chúng ta không thiếu ông chủ. Hiểu cho thật kỹ chúng ta mới thấy ý nghĩa, giá trị của người tu thiền…"

(trích "Con Đường Đi Đến Phật Đạo" – Hòa thượng Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 5: Đọc tụng Kinh sao cho đúng

“…Chúng ta ngày nay chỉ đọc tụng mà không đúng như lời Phật dạy để tu hành, cho rằng đọc tụng nhiều là tu nhiều. Tu và đọc có giống nhau không? Nếu bảo đọc tụng kinh là tu, tôi cho rằng chưa đúng. Vì sao? Ví dụ một bệnh nhân đến bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ cho toa bảo về nhà mua đủ những thứ thuốc ghi trong toa mà uống sẽ lành bệnh. Bệnh nhân đem toa về cứ đọc tới đọc lui hiệu thuốc ghi trong toa, mà không mua thuốc để uống. Như thế bệnh có lành không? Cũng vậy, ở đây Phật dạy đọc tụng rồi đúng như lời dạy của Phật mà tu hành mới được công đức. Phải hiểu chỗ này cho thật kỹ. Đọc rồi nhớ ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống đó là tu, chớ không phải đọc tụng suông như đọc toa thuốc mà gọi là tu được.

Hiện tại có rất nhiều người tụng kinh Pháp Hoa, tu theo kinh Pháp Hoa, nhưng chúng ta tụng và tu theo kinh Pháp Hoa với tâm niệm gì? Cầu trí tuệ Phật hay cầu phước báo, cầu lợi lộc? Nếu cầu phước cầu lợi là phản bội kinh Pháp Hoa rồi! Tôi xin nhắc lại kinh Pháp Hoa dạy tu để được Nhứt thiết chủng trí, tức là tu để được trí tuệ Phật. Phật dạy một đàng chúng ta làm một nẻo, mà cho là trì kinh, cho là mình tu cao, chỉ tăng trưởng lòng tham, tăng trưởng ngã mạn. Đó là một cái bệnh mà ít ai biết. Nói lời thật thì khó nghe và làm mích lòng người. Nhưng biết, thấy người tu sai mà không nói thì vấp phải cái lỗi bỏn xẻn, nên buộc lòng chúng tôi phải nói. Giảng kinh Pháp Hoa là phải làm sáng tỏ lý kinh, chớ để cho người tu theo kinh Pháp Hoa mà tu lầm, tu sai thì không được…”

(trích “Kinh Pháp Hoa – Phẩm Dược Thảo Dụ” – Hòa thượng Trúc Lâm giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 6: Vị giải thoát

“…Pháp Phật nói chỉ có một tướng, một vị, đó là tướng giải thoát, vị giải thoát. Phật giáo hóa suốt bốn mươi chín năm, Ngài nói pháp rất nhiều, tại sao chỉ có một tướng giải thoát, một vị giải thoát? Như chúng ta biết, Phật nói pháp thấp nhất là 5 giới, người giữ 5 giới là giải thoát được 5 phần chướng nạn. Ví dụ người có tật tham lam trộm cắp, khi phát nguyện giữ 5 giới thì không trộm cắp nữa, không trộm cắp là đã giải thoát được cái nạn bị bắt bớ đánh đập tù tội. Người ghiền rượu khi phát nguyện giữ 5 giới thì giải thoát được cái nạn nghiện ngập say sưa. Vậy giữ một giới là giải thoát được một nạn chướng, giữ hai giới là giải thoát được hai nạn chướng… Trong luật gọi là từng phần giải thoát. Như vậy không phải pháp Phật có một vị là vị giải thoát sao?

ướng xa lìa là xa lìa tham sân si, phiền não chấp trước. Đối trước danh lợi, tài sắc… biết là giả dối không thiệt, không khởi tham sân si, chấp trước, đó là xa lìa, chớ không phải chạy trốn danh lợi, tài sắc mới gọi là xa lìa. Tướng diệt là sạch hết mọi vọng niệm, tâm thanh tịnh, hướng đến bậc Nhất thiết chủng trí. Sở dĩ Phật dạy cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát, là vì Ngài được Nhất thiết chủng trí, tức là trí biết được mọi chúng sanh. Nên ai nghe kinh này rồi thọ trì, đọc tụng và đúng như lời Phật dạy mà tu hành thì người đó được công đức tự mình không hay biết, không thể suy lường…”

(trích “Kinh Pháp Hoa – Phẩm Dược Thảo Dụ” – Hòa thượng Trúc Lâm giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 7: Học và tu

“…Sở dĩ đạo Phật tồn tại hơn hai ngàn năm trăm năm nay là do giáo pháp Phật còn, và còn người tu đúng theo pháp Phật. Ngoài ra chùa chiền, di tích, nghi thức tôn giáo chưa phải là yếu tố chính để duy trì Phật pháp. Trọng tâm của sự truyền bá đạo Phật, là phải làm sao chính mình thông hiểu và thực hành đúng pháp Phật, để được lợi ích thực tiễn, rồi dạy người hiểu và tu đúng theo pháp Phật, được lợi ích như mình. Cho nên chúng tôi tự thấy trách nhiệm là phải làm sao cho Tăng Ni và Phật tử hiểu, thực hành được những gì mà chúng tôi đã hiểu, đã thực hành, thì khả dĩ Phật pháp mới được trường tồn. Nếu hiểu Phật pháp mà không tu hoặc tu sai, hay tu mà không hiểu Phật pháp là tự mình hủy diệt mình, tự làm cho đạo Phật không còn giá trị chân chính nữa.”

(trích “Kinh Pháp Hoa – Phẩm Dược Thảo Dụ” – Hòa thượng Trúc Lâm giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 8: Công ơn Phật, Tổ, và Thầy

“…Công ơn giáo hóa sâu dầy của Phật cũng như của Thầy Tổ, đối với người học đạo lôi thôi thì họ không thấy không biết, vì họ không nhận được sự lợi ích, vẫn còn mê mờ khổ đau. Còn người học Phật chân chính, càng tu càng thấy công ơn của Phật đối với chúng ta lớn lao vô kể, và công ơn của Thầy Tổ trực tiếp hướng dẫn chúng ta tu học cũng không phải nhỏ. Tại sao vậy? Vì ở thế gian chúng ta học về ngôn ngữ, luận lý, công nghệ, giúp cho chúng ta khôn ngoan lanh lợi, ăn nói lưu loát. Có nghề nghiệp để sinh sống thì chúng ta có danh vị quyền lợi, được giàu sang no ấm, cao lắm là một đời người bốn năm mươi năm, mà chúng ta còn mang ơn thầy dạy suốt đời.

Đối với đức Phật, từ vô lượng kiếp chúng ta vô minh tạo nghiệp, đi trong luân hồi sanh tử chịu khổ triền miên. Nay được Phật chỉ dạy cho phương pháp tu hành, nhận ra Tri kiến Phật thoát ly sanh tử, đời đời kiếp kiếp không còn khổ đau. Như vậy, công ơn của Phật đối với chúng ta chừng bao nhiêu? Không thể tính kể, khó mà đền đáp! Cho dù tâm cung kính đảnh lễ, đầu đội Phật, vai cõng Phật, hoặc dâng cúng thức ăn, y phục, thuốc thang, sàng tòa toàn bằng vật quí báu, hoặc xây tháp miếu thờ tượng Phật trải qua vô lượng kiếp, cũng không đền đáp được công ơn của Phật. Tại sao vậy? Vì tất cả việc làm đó đều là hình thức, là tướng sanh diệt nên có giới hạn. Còn Phật chỉ bày Tri kiến Phật là cái không hình tướng, không giới hạn, chúng ta nhận ra và hằng sống với nó thì dứt khổ đau vĩnh viễn. Lấy cái giới hạn mà đáp cái vô hạn làm sao đáp được? Khi đã biết ơn Phật đối với chúng ta lớn lao vô kể, thì cái ơn gần nhất là Thầy Tổ, đã có công nối tiếp nhắc nhở lời Phật dạy cho chúng ta nghe để tu, thì công ơn ấy cũng không thể kể xiết…”

(trích “Kinh Pháp Hoa – Phẩm Tín Giải” – Hòa thượng Trúc Lâm giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 9: Xả chấp

“…Phật nói “chấp là kẻ mê”, nói dễ hiểu hơn chấp là người ngu. Chấp nhiều thì ngu nhiều, chớ đừng tưởng chấp là hay. Người tu là người tỉnh, người sáng suốt thì không nên chấp. Không nên chấp về thân, không nên chấp về tâm, không nên chấp về cảnh. Được vậy chúng ta sống được bình an, tu hành thanh tịnh. Đó là nói về người tại gia.
Bước qua lãnh vực của người xuất gia, còn xả nhiều hơn nữa…Chúng ta chỉ cần khéo một lời nói, khéo một cái nhìn thì hết phiền não. Người ta chê mình ngu, chê mình si mê, mình cười thôi không có gì quan trọng. Đằng này, huynh đệ nói lời hơi nặng một chút, mình phiền não hai ba ngày, bỏ ăn bỏ ngủ, thì chừng nào mới thành Phật. Ai tu cũng muốn thành Phật mà cứ chấp. Càng lớn chấp càng nhiều, chấp quá chừng là chấp thì thành Phật sao nổi. Cho nên chúng ta tu phải bỏ, phải xả hết mọi ngã chấp.

Người tu vui trong đạo, vui với những lời của Phật dạy, mọi bàn luận hơn thua là trò đùa, không có giá trị gì hết. Nhớ như vậy, nghĩ như vậy là chúng ta biết tu. Được thế sự tu mới tiến nhanh, mới được lợi ích. Cho nên xả thân đã là tốt nhưng xả tâm chấp ngã mới là quan trọng. Người khéo tu cần phải biết điều này.”

(trích “BỎ TẤT CẢ, ĐƯỢC TẤT CẢ” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 10: Không còn mê lầm

“Chúng ta tu thiền cốt làm sao tới phút giây nào đó những mê lầm vọng tưởng không còn quấy nhiễu nữa, trí tuệ trong sáng hiện tiền, đó là giác. Tuy giác chưa tròn nhưng vẫn được một đôi phần. Từ đó chúng ta mới thương những người đang sống mê trong cuộc đời tạm bợ này, họ đã gây không biết bao thứ nghiệp là nhân của khổ đau. Do đó chúng ta mới đem hết các phương tiện để cứu vớt họ.

Cho nên chư Tổ thường nói, người tu là kẻ đưa đò. Chèo thuyền Bát-nhã cứu vớt người trong biển mê đưa lên bờ giác, đó là hình ảnh cụ thể nói lên sứ mạng của chúng ta. Như vậy trọng tâm của người tu không gì ngoài giác ngộ. Tất cả đau khổ của chúng sanh đều bắt nguồn từ cái mê. Trong kinh có một đoạn Phật dạy: Người bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải khổ, bị làm ngạ quỉ đói khát chưa là khổ, bị làm trâu bò kéo cày kéo bừa nặng nề, người ta đánh đập cũng chưa phải là khổ, chỉ có kẻ si mê không biết lối đi, đó mới là khổ….”

(Giáo huấn của Sư Ông Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 11: Đức hỷ xả

“Chúng ta là người chịu trách nhiệm, vừa phải cố gắng tu cho đạt đạo, vừa đem chánh pháp truyền bá cho mọi người. Vì trọng trách đó nên phải tập rèn cho đủ những đức tánh tốt, nhất là đức hỉ xả, để vui trong những chướng ngại, buông hết không bận lòng. Được vậy, việc tu và Phật sự của mình mới có kết quả. Nếu còn ôm ấp phiền não thì tu không được, làm Phật sự cũng không thể thành tựu. Bởi vậy tôi muốn ai cũng có trách nhiệm khi được giao việc này việc kia, đồng thời để ý tự xét coi tâm mình đã an ổn chưa hay còn có gì gút mắc, để cố gắng cởi mở, đừng cho kẹt nữa…”

(Giáo huấn của Sư Ông Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 12: Đạo Phật đi trước khoa học

“Đạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi và bình đẳng làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thiết thân với nhân loại văn minh. Bất cứ nền văn minh chân chánh nào đòi hỏi con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ cho con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thật sự văn minh.

Đứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy đức Phật quả thật đã đi trước các nhà khoa học khá xa; tương lai dù nhân loại văn minh tiến bộ đến đâu cũng khó qua mặt được đạo Phật.”

(trích “TẤT CẢ PHÁP KHÔNG CỐ ĐỊNH” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 13: Mắt trí tuệ

“Với con mắt của Phật giáo, muốn nuôi dưỡng tình thương cho được sanh sôi nẩy nở mãi và vượt ra ngoài phạm vi giới hạn, chúng ta phải dùng con mắt trí tuệ thấy rõ thân phận của con người. Sở dĩ chúng ta khép chặt cửa tình thương là bị tham lam cuồng nộ, si mê thôi thúc che đậy. Một khi con mắt trí tuệ mở sáng rồi thì ba con quỉ ác độc ấy bị yếu thế. Từ đó cánh cửa tình thương chúng ta mới mở rộng thênh thang.

Làm sao chúng ta mở sáng mắt trí tuệ? Chúng ta phải nhìn xem, phải xét kỹ đời sống con người sự thật như thế nào? Mạng sống của chúng ta được bao lâu? Trong khoảng thời gian sống của chúng ta có an ổn hoàn toàn không? Những người trước chúng ta và đồng thời với chúng ta có thật sự hạnh phúc không? Chỉ cần quán sát kỹ ba vấn đề này thì con mắt trí tuệ của ta bừng sáng”.

(trích “NGUỒN GỐC MÊ TÍN” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 14: Mê tín

“Tóm lại, mê tín là một tệ nạn của xã hội, nó tạo dựng những con người yếu hèn, mất tự tin, không sáng suốt. Muốn có một xã hội văn minh lành mạnh, chúng ta không thể nào chấp nhận nạn mê tín hoành hành. Huống nữa, trong giới Phật giáo chúng ta đang kế thừa chánh pháp giác ngộ giải thoát của đức Thế Tôn, mà nuôi dưỡng chấp nhận mê tín được sao? Thế mà có nhiều Tăng sĩ, Trụ trì khi nghe Phật tử than làm ăn sa sút, liền bảo đến chùa thầy cầu nguyện cho; nghe con cháu Phật tử sắp thi cử, bảo ghi tên để thầy cầu nguyện cho; nghe Phật tử than gia đình xảy ra tai nạn, bảo đến chùa thầy cúng sao cúng hạn cho…

Ôi thôi vô số chuyện, cái gì thầy cũng lãnh hết, lo hết và bao thầu hết! Đó là chúng ta đang truyền đăng tục diệm, hay chúng ta dụi tắt ngọn đuốc chánh pháp của đức Như Lai? ”.

(trích “NGUỒN GỐC MÊ TÍN” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 15: Các giai đoạn tu tập

“…Giai đoạn đầu khi tu phải giữ cái chánh bỏ cái tà, tà đến thì dẹp, chánh đến thì giữ, dùng chánh phá tà, khi tà hết rồi thì cái chánh cũng phải buông, tà chánh đều không dùng thì đến chỗ thanh tịnh.

Thứ hai là phải thấy mình chớ đừng thấy người. Thấy lỗi mình nghĩa là thấy từ vọng tưởng cho đến hành động, ngôn ngữ, điều gì sơ sót mình phải sửa. Tu là sửa, nếu không thấy lỗi thì làm sao sửa? Thế nên từ tâm niệm đến thân miệng, thấy được điều gì sai, điều gì lỗi thì sửa, đó là tu. Trái lại thấy người mà không thấy mình, đó là lỗi, đó là tạo nghiệp. Vì vậy muốn gần với đạo, người tu phải hằng thấy mình, đúng tinh thần nhà Thiền gọi là phản quan tự kỷ. Phản quan tức là soi lại, tự kỷ là chính mình, hằng soi lại chính mình, nhờ soi lại mới thấy mình lỗi, đó là tu. Chúng ta có tật là hay soi ra ngoài, con mắt luôn nhìn ra, vì thế chỉ thấy người khác mà không thấy mình. Nay phải nhìn trở vào, soi trở lại mình để thấy từng hành động, từng tâm niệm, thấy như vậy mới tu được, còn nếu chỉ thấy người là tu không được. Thế nên người tu Thiền là phải phản quan, đó là gốc của sự tu hành. Người nào thấy được mình thì cùng với đạo tương đương, tức là gần với đạo.

Điểm thứ ba, chúng ta tu thì phải hằng dùng tâm chân chánh dẹp bỏ những tâm tà vạy, nhất là làm sao dứt sạch các thứ phiền não. Muốn dẹp sạch phiền não thì đừng bận lòng về sự yêu ghét. Yêu ghét không bận lòng thì phiền não theo đó dứt, trái lại nếu bận lòng về yêu ghét thì phiền não không dứt.

Điểm thứ tư, chúng ta tu là tu ngay trong thế gian này chớ không phải ở nơi nào khác. Ngay trên thế gian mà tỉnh giác đó là tu, nếu bỏ thế gian để tìm nơi huyền bí nào, bỏ thế gian để cầu giác ngộ (thí dụ như xuất hồn vào trong hư không để tìm đạo) thì cũng như tìm lông rùa, sừng thỏ. Phải ngay thế gian mà giác chớ đừng tìm cầu ở đâu xa…”

(trích “Kinh Pháp Bảo Đàn” – HT. Trúc Lâm dịch & giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 16: Giờ ngồi thiền

“…Ở đây nói mọi hành động đều là thiền, nhưng khi đi phải cất bước, cất bước thì có lăng xăng có động, mà động thì khó định. Đứng thì đứng lâu mỏi chân, cũng khó định. Nằm thì mờ mịt vì buồn ngủ, mà mờ mịt thì không có sức mạnh. Tuy nó hơi yên nhưng yên thì cái nghĩ dễ sanh, mà nghĩ sanh thì niệm khởi. Như vậy tuy đi đứng nằm đều được, nhưng không phải là thế ưu.

Ngồi thiền là ưu hơn hết, bởi vậy bắt quí vị ngồi hai giờ là cái lý của tôi. Có ngồi nhiều rồi quí vị mới thấy kinh nghiệm tôi không sai. Nếu ngồi một giờ thì nửa giờ đầu rối bời, lúc hơi yên là hết giờ. Ngồi một giờ rưỡi thì nửa giờ đầu rối, nửa giờ kế hơi yên yên, nửa giờ sau vừa mới yên thì hết giờ. Ngồi hai giờ thì bỏ giờ đầu, còn giờ sau là giờ yên. Yên là sức mạnh. Ngoại trừ những người mới ngồi thì giờ sau là giờ chịu đựng, nhưng có chịu đựng rồi sẽ thắng. Còn người ngồi được lâu thì giờ sau mới yên, yên rồi sẽ thấy sức mạnh của thiền. Sức mạnh đó mới thắng được vọng tưởng, nếu không thì vọng tưởng cứ ào ào tuôn ra dừng không nổi. Bởi vậy, tu cần phải cố gắng chịu đựng mới thắng được, chớ không phải dễ dàng.

(trích “Khóa Hư Lục"_ Luận Tọa Thiền” – HT. Trúc Lâm dịch & giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 17: Đừng dính mắc với sáu trần

“…Hiện nay Tăng Ni hay Phật tử thử trọn một ngày đừng dính sáu trần thì tâm có an không? Không dính sáu trần thì tâm tự an rồi! Nếu còn chạy theo trần này dính mắc trần kia, như khỉ vượn buông nhánh này chụp nhánh khác thì tâm đâu có an. An trụ là không dính sáu trần, thì sáu trần đâu có quyền gì xâm phạm đến mình? Mình là mình nó là nó, mình ở đây, nó ở ngoài kia. Như sắc ở ngoài con mắt, mình ngó lơ thì không dính mắc, như tiếng người nói, mình nghe rồi buông đừng bám vào, thì sắc thanh đâu có xâm phạm đến chúng ta được. Chỉ vì mắt dính với sắc trần, tai dính với thanh trần… nên chúng ta bị sáu trần lôi kéo đắm chìm trong sanh tử đời đời kiếp kiếp. Ngay bây giờ đừng dính sáu trần thì tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức tâm Phật hiện ra. Trái lại nếu còn dính mắc thì tâm chúng sanh hiện ra.

Dính mắc là chúng sanh, không dính mắc là Phật, Phật với chúng sanh gần kề nhau. Như vậy chúng ta thấy việc tu hết sức là đơn giản, không phải gian lao cực khổ gì.”

(trích “Khóa Hư Lục” – HT. Trúc Lâm dịch & giảng)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 18: Can đảm buông xả

“…Muốn tâm an trụ để được giác ngộ thì đối với sáu trần tâm đừng dính mắc. Chúng ta còn dính mắc nên tâm không an, không an làm sao giác ngộ giải thoát được.
Ví dụ tay tôi nắm cái ly thì dính mắc ở cái ly nên không thể nắm được cái khác. Vì vậy còn bám vào một vật gì là mắc kẹt vào vật đó. Nếu trên bàn có năm ba thứ nhưng tay tôi không nắm thứ nào hết nên rảnh rang không dính mắc. Nhờ không dính hắn vào một vật nên tôi có thể cầm vật nào cũng được. Không bám nên không dính mắc, đó là vô sở trụ. Chỗ không dính mắc ấy là tâm Bồ đề.

Tôi thường ví dụ như người vác cục đá to leo núi, việc này rất khó. Vì đá nặng mà trèo dốc cao nữa nên rất khó đi. Bây giờ có người khuyên kẻ đó bỏ cục đá xuống, như vậy khó hay dễ? Bỏ xuống khỏe ru phải không? Cũng thế, chúng ta đang dính đang nhiễm, Phật bảo mình buông đi, đừng dính nhiễm nữa, như vậy dễ hay khó? Thế mà chúng ta lại than khó!

Tại sao buông xuống nhẹ mà lại khó? Nghe khen, nghe chê buông bỏ hết cho khỏe, dễ quá tại sao mình không chịu buông? Thật lạ lùng.

Ví dụ nhu người ghiền rượu, mỗi ngày phải tốn tiền đi quán bao nhiêu lần, khổ hay sướng? Khổ. Bây giờ biểu bỏ rượu đi, đừng uống nữa khỏi tốn tiền, hết khổ nhưng họ nói bỏ rượu khó quá. Tại sao khó? Tại vì đeo mang quen rồi, buông ra thấy khó. Nếu chúng ta can đảm buông một cái thì dễ thôi, lỗi là tại mình không gan. Bởi vậy người tu đòi hỏi phải có ý chí, phải gan dạ.

Tất cả các nghiệp thiện cũng như nghiệp ác đều do chính mình là chủ nhân tạo nên. Ta đã tạo cho mình khổ thì cũng chính ta làm cho mình hết khổ, chớ đâu có ai thế được. Gan một chút bỏ hết đi thì hết khổ; không chịu gan rồi cứ kêu khổ hoài. Rõ ràng ta không đủ can đảm làm những việc lợi ích cho bản thân mình, thì mong gì giúp ích cho ai? Vì thế không nói tu từ đâu mà chính nơi sáu căn của mình biết gỡ bỏ, tự nhiên chúng ta yên lành tự tại…”

(trích “Cội Gốc Sanh Tử Và Niết Bàn” _ HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 19: Đừng bận lòng yêu ghét

"Muốn dẹp sạch phiền não thì đừng bận lòng về sự yêu ghét. Yêu ghét không bận lòng thì phiền não theo đó dứt, trái lại nếu bận lòng về yêu ghét thì phiền não không dứt…"

(Lời dạy của Sư Ông Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 20: Sanh diệt lặng

“Phật dạy chúng ta biết các hành đều vô thường, đều là pháp sanh diệt. Chúng ta đừng cố chấp, đừng luyến tiếc, đừng quá thương yêu, mà phải làm sao cho tất cả những thứ sanh diệt đó lặng hết, thì tịch diệt là niềm vui an lạc sẽ đến với chúng ta. Trong nội tâm của mình, nếu cứ lo nghĩ chuyện này chuyện kia dồn dập, lúc đó gương mặt mình héo sầu. Ngược lại, nếu tâm mình thơ thới, không có một niệm lo nghĩ nào hết, lúc đó gương mặt mình tự nhiên được tươi vui. Như vậy, cái sanh diệt lặng rồi thì tịch diệt (nguồn vui) hiện tiền. Nên người khéo tu lúc nào cũng tìm cách đưa tâm sanh diệt của mình đi đến chỗ lặng lẽ. Đó là nguồn an lạc lớn lao nhất của người tu.”

(trích "NGUỒN AN LẠC GIẢI THOÁT" – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 21: Không màng thương ghét

"Đãn tự khước phi tâm,
Đả trừ phiền não phá,
Tắng ái bất quan tâm,
Trường thân lưỡng cước ngọa".

(Kinh Pháp Bảo Đàn – Lục Tổ Huệ Năng)

(Chỉ tự mình dẹp lỗi nơi tâm mình, trừ hết các phiền não, yêu ghét đều không bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ)

Hòa thượng Trúc Lâm giảng :

“Tổ nói thật là dễ dàng: Thương ghét không có bận lòng thì duỗi thẳng hai chân ngủ khò! Chúng ta ngủ không được là tại còn thương ghét. Người thương mà xa thì nhớ ngủ không được, người ghét mà gần cũng tức ngủ không được. Như vậy hai việc làm cho chúng ta ăn không ngon, ngủ không yên là thương và ghét, nay thương ghét không bận lòng thì duỗi chân ngủ. Đức Phật cũng đã dạy người nào không bận đến chuyện thương ghét, hơn thua thì người đó ngủ ngon. Đoạn này Tổ cũng nói như vậy, ai mà yêu ghét không bận trong lòng thì duỗi thẳng hai chân nằm ngủ. Người đến giờ ngủ, duỗi chân ngủ khò, đó là người sung sướng. Chắc ai cũng muốn vậy mà làm không được là vì bỏ hai điều thương ghét chưa được, bỏ không được nên ngủ hết ngon. Đó là sự thật trăm phần trăm!”

(trích “Kinh Pháp Bảo Đàn – Giảng giải” – Hòa thượng Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 22: Tự tánh tịnh độ

"Phàm ngu không rõ Tự tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện đông, nguyện tây, người ngộ ở chỗ nào cũng vậy, cho nên Phật nói: Tùy chỗ mình ở hằng được an lạc.

Sử quân, Tâm địa chỉ không có bất thiện thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên Thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là đi được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình trực, đến như trong khảy móng tay, liền thấy đức Phật A-di-đà.

Sử quân, chỉ hành mười điều thiện đâu cần lại nguyện vãng sanh, không đoạn tâm thập ác thì Phật nào đón tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát-na. Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu sanh thì con đường xa làm sao đến được!"

(Kinh Pháp Bảo Đàn – Lục Tổ Huệ Năng)

Hòa thượng Trúc Lâm giảng:

"Người phàm phu ngu muội không nhận được Tự tánh của mình, ngay trong thân mình đã có sẵn Tịnh độ mà không biết, cứ cầu Tịnh độ ở ngoài. Còn người trí ngộ được Tự tánh của mình, liền thấy Tự tánh là Tịnh độ. Nếu chúng ta được chừng năm phút trong tâm không có niệm thương ghét buồn giận, thì ngay lúc ấy thấy đây là cõi tịnh. Trái lại nếu trong tâm còn buồn giận thương ghét thì đến chỗ nào cũng thấy toàn là phiền não. Vì thế chủ yếu của việc tu hành là tịnh ngay tâm mình, nhận được Tự tánh thanh tịnh của mình và sống với nó, đó là Tịnh độ. Người không biết tu, cứ chạy tìm cầu bên ngoài, rốt cuộc không đi đến đâu, vì làm sao tìm được lẽ thật ở bên ngoài!

Ví dụ như người học trò khôn ráng học bài thuộc, đi thi đậu; người học trò biếng nhác không chịu học bài, khi gần thi lo chạy tìm các thầy giáo năn nỉ xin giúp đỡ, như vậy làm sao bảo đảm được thi đậu? Nếu người có thiện chí giúp, ít nhất chúng ta phải có khả năng tương đương, còn dốt mà muốn thi đậu, việc ấy rất khó. Sự tu hành cũng như thế, nếu chúng ta không siêng năng hành thiện, dẹp trừ tội lỗi mà cứ cầu sanh về Cực Lạc, chờ Phật rước, làm sao Phật rước chúng ta về cõi Phật được, không sợ chúng ta làm nhơ cõi ấy hay sao? Như hiện nay có người hung dữ vào chùa xin tu, tuy chúng tôi phải độ người tu hành, nhưng chúng tôi phải dè dặt vì người hung dữ quá vào chùa làm ồn, chúng tu không được; huống là cõi Phật thanh tịnh mà đem những người ô uế về làm rối loạn nơi thanh tịnh sao? Thế nên phải biết rõ, điều cốt yếu là phải tịnh ngay tâm mình, đó là Tịnh độ…"

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 23: Tâm bình, hạnh trực

Tâm bình hà lao trì giới,
Hạnh trực hà dụng tu thiền,

(Kinh Pháp Bảo Đàn – Lục Tổ Huệ Năng)
***
Hòa thượng Trúc Lâm giảng:

"Người nào tâm bình rồi không nhọc phải giữ giới, hạnh được thẳng rồi không cần phải tu thiền. Tại sao? Tâm bình nghĩa là tâm không động, tâm không động đâu còn tạo nghiệp nữa mà phải trì giới. Tâm bình ví như mặt nước lặng, bằng phẳng, đâu có sóng gió. Tâm bình đâu có dấy niệm tham sân si. Sở dĩ chúng ta giữ giới là để ngừa tham sân si, nếu tâm đã bình, đâu còn tham sân si để ngừa! Thế nên nói: Tâm bình không cần trì giới, hạnh trực không cần phải tu thiền. Hạnh đây cũng là tâm, tức là tâm hạnh nếu ngay thẳng thì không cần phải tu thiền. Ngay thẳng là thế nào? Là không vướng bên này, không kẹt bên kia. Thường chúng ta hay dấy niệm chạy theo phải quấy tốt xấu, đó là hai bên. Nếu tâm mình ngay thẳng không kẹt hai bên, còn gì nữa mà tu thiền? Tu thiền là dứt tâm lăng xăng, nếu tâm lăng xăng không còn nữa, tu thiền là dư, nên nói hạnh trực không cần tu thiền.

Tuy nhiên nếu tâm chúng ta còn lăng xăng, nghĩ đây nghĩ kia thì cần tu thiền không? Dĩ nhiên là cần. Nếu tâm chúng ta chưa bình, gặp việc thì sân si nổi dậy, có cần giữ giới không? Tất nhiên là phải giữ giới, nếu không giữ giới, chắc tạo tội không sao kể xiết. Vì thế tâm chưa bình thì giới là quan trọng, hạnh chưa trực thì thiền rất thiết yếu. Khi nào tâm bình hạnh trực mới không cần giữ giới và tu thiền, nếu chưa được như thế mà đem hai câu này ra nói, là một điều lầm lỗi lớn. Tỉ dụ khi nghe ai khuyên trì giới thì nói: “Tâm bình cần gì trì giới, Tổ đã nói rõ ràng, các người còn hình thức quá!” Nghe ai dạy tu thiền thì bảo: “Hạnh trực đâu cần tu thiền, Tổ đã dạy rồi mà!” Nhưng thử hỏi tâm chúng ta đã bình chưa? Hạnh chúng ta đã trực chưa? Nếu tự biết tâm mình chưa bình, hạnh chưa trực thì trì giới và tu thiền rất cần thiết. Người học pháp thông thì ít, chấp thì nhiều, chấp chữ chấp nghĩa, đem kinh ra nói khoác mà không tu, trở thành công kích người khác, tạo tội ác khẩu, vậy chúng ta phải cẩn thận. Tóm lại muốn tu thiền, muốn giữ giới không gì hơn là tâm bình, hạnh trực. Tâm bình, hạnh trực là đủ cả giới, thiền trong đó…"

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 24: Đời sống tu tập tại gia

"…Chúng tôi nhắc lại, người Phật tử chân chánh phải có những bài thuyết pháp sống ngay nơi mình, nghĩa là trong cuộc sống gia đình phải là người mẫu mực biết làm lành, làm phải, biết ân cha mẹ, biết tình nghĩa anh em. Nếu chỉ có nếp sống đạo đức ở chùa mà không áp dụng nơi gia đình, đạo đức ấy không phải thật, vì người Phật tử không ở chùa thường, chỉ đến chùa một hay hai lần trong tháng, mà ở nhà thường trực hơn. Nếu sống thường trực nơi gia đình không ra gì thì sống một, hai ngày ở chùa có nghĩa lý gì đâu. Điều quan trọng là cách cư xử tại nhà: hiếu kính cha mẹ, thương mến anh em. Cha mẹ anh em là ân là nghĩa, là người ruột thịt gần gũi, nếu chúng ta không kể đến thì những người ngoài không có tình máu mủ, không ân nghĩa nặng nề, có làm điều trái ý, chúng ta có thể hại họ được. Tình thương ruột thịt không có thì tình thương xã hội khó mà tìm được.

Hiểu được như vậy mới thấy rõ Phật, Tổ đều dạy chúng ta điều căn bản là đối với cha mẹ phải lấy ân để đền đáp, đối với anh em phải lấy nghĩa mà thương mến nhau…"

(trích "Kinh Pháp Bảo Đàn_Giảng giải" – Hòa thượng Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 25: Tu tại gia, và tại chùa

"…Chúng tôi nhắc lại, người Phật tử chân chánh phải có những bài thuyết pháp sống ngay nơi mình, nghĩa là trong cuộc sống gia đình phải là người mẫu mực biết làm lành, làm phải, biết ân cha mẹ, biết tình nghĩa anh em. Nếu chỉ có nếp sống đạo đức ở chùa mà không áp dụng nơi gia đình, đạo đức ấy không phải thật, vì người Phật tử không ở chùa thường, chỉ đến chùa một hay hai lần trong tháng, mà ở nhà thường trực hơn. Nếu sống thường trực nơi gia đình không ra gì thì sống một, hai ngày ở chùa có nghĩa lý gì đâu. Điều quan trọng là cách cư xử tại nhà: hiếu kính cha mẹ, thương mến anh em. Cha mẹ anh em là ân là nghĩa, là người ruột thịt gần gũi, nếu chúng ta không kể đến thì những người ngoài không có tình máu mủ, không ân nghĩa nặng nề, có làm điều trái ý, chúng ta có thể hại họ được. Tình thương ruột thịt không có thì tình thương xã hội khó mà tìm được. Hiểu được như vậy mới thấy rõ Phật, Tổ đều dạy chúng ta điều căn bản là đối với cha mẹ phải lấy ân để đền đáp, đối với anh em phải lấy nghĩa mà thương mến nhau…"

(trích "Kinh Pháp Bảo Đàn_Giảng giải" – Hòa thượng Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 26: Đừng thả trôi một đời

“Nhân ngày Phật thành đạo tôi nhắc tất cả Tăng Ni, Phật tử biết con đường của đức Phật đã đi, chúng ta cũng phải đi như thế. Thông thường người đời nay hay nói mình phước mỏng nghiệp dày rồi tu lơ mơ, vì vậy không bao giờ đạt được kết quả tốt đẹp. Ngày xưa đức Phật là Bồ-tát tái thế mà còn cần khổ tu hành mới thành tựu sở nguyện. Nếu Phật khổ chừng năm chục phần trăm mới đạt kết quả, thì chúng ta bây giờ phước mỏng nghiệp dày phải khổ trăm phần trăm mới có kết quả chứ. Bây giờ khổ bằng Phật mình còn không làm nổi huống nữa là hơn, cho nên quả Bồ-đề thật khó với tới.

Nếu chúng ta quyết chí nhất định một đời tìm ra cái cao siêu quí báu, thì phải chấp nhận con đường tu cay đắng, khó khăn, cương quyết vượt qua hết mọi thử thách để đạt được mục đích của mình. Một đời có mặt ở đây là rất quí, chúng ta đừng bỏ mất cơ hội này. Nếu đời này mất đời sau cũng sẽ mất, mất hoài không bao giờ chúng ta tiến được. Đời này nếu chúng ta chưa tìm ra trọn vẹn thì ít ra một phần, hai phần cái cao siêu ấy. Có thế sau này mới hi vọng tiếp tục con đường tu hành như nguyện, còn thả trôi đời này thì đời sau cũng sẽ mất. Mất mãi mãi như vậy làm sao tránh khỏi muôn kiếp luân hồi trong lục đạo.

Mong tất cả Tăng Ni nhớ và gắng thực hành những gì tôi nhắc nhở nhân ngày kỷ niệm đức Phật thành đạo.”

(trích bài giảng nhân lễ Phật Thành Đạo năm Bính Tí – 1996 của Hòa thượng Trúc Lâm tại thiền viện Thường Chiếu)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 27: Nghiệp

“…Tổ Qui Sơn chỉ cho chúng ta thấy cái nhân có thân này là do nghiệp, hoặc nghiệp lành nghiệp dữ; nếu thọ thân trong cảnh tốt được sung sướng an vui là do tạo nghiệp thiện, còn thọ thân trong cảnh xấu chịu khổ đau là do tạo nghiệp ác. Biết được khổ vui là do nghiệp mình tạo, để gan dạ chịu, không than oán khi gặp khổ, và cố gắng chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, nếu ta còn luân hồi. Hoặc gan dạ cắt dứt mọi trói buộc của nghiệp để được tự tại trong tam giới, đó là tu.

Ngược lại biết rõ nghiệp, mà vẫn đầu hàng, phó mặc cho nó chi phối lôi trì, là không biết tu vậy. Còn tạo nghiệp là phải thọ thân, mà có thân thì khổ, vì thân này vô thường hoại diệt, dù là vua chúa hay ăn mày cũng không thoát khỏi vô thường, nên gọi là hình lụy. Có thân là có đủ các nỗi khổ nào là sanh, già, bịnh, chết, thương yêu xa lìa, thù oán gặp gỡ… Chỉ khi nào cắt dứt nghiệp thì không thọ thân và dứt luân hồi sanh tử. Không thọ thân không có nghĩa trở thành hư không, mà lúc ấy muốn độ ai thì tùy nguyện đến cứu giúp họ. Khi làm xong việc rồi đi một cách tự tại, chớ không bị nghiệp chi phối ép ngặt…”

(trích “Qui Sơn Cảnh Sách_Giảng giải” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

***********

Lời dạy 28: Ẩn tu

“Tiện năng tháo tâm dục đức. Hối tích thao danh, uẩn tố tinh thần, huyên hiêu chỉ tuyệt”.
(Có thể mới hay rửa lòng nuôi đức, ẩn tích mai danh, chứa nhóm tinh thần, xa lánh ồn náo)
—–
Quy Sơn Cảnh Sách văn
***
Hòa thượng Trúc Lâm giảng:

“Người tu trước phải rửa tâm nuôi đức, kế đến ẩn hành tung chôn vùi tên tuổi để chứa nhóm tinh thần cho trong sạch, muốn thế phải xa lìa chỗ ồn náo. Sở dĩ chúng ta không thể gội rửa tâm hồn, nuôi dưỡng đức hạnh cũng chỉ vì: một phần là hiện tướng sờ sờ, hai là tên tuổi thiên hạ đều biết. Vì hiện tướng sờ sờ nên ai thấy cũng mời, nay đi chỗ này, mai đi chỗ nọ, đi mãi thì làm sao có ngày giờ để gội rửa tâm thần? Vì thế người tu thường ở núi rừng xa vắng, cốt để người không gặp, tên tuổi chẳng ai biết đến, thì mới có cơ hội uẩn tố tinh thần. Ngay như tôi khi xưa suốt mấy năm lăng xăng làm việc này việc nọ, lúc ra đây nếu tôi không tuyên bố nhập thất chắc cũng không làm gì được. Vì ai thấy cũng mời, thì rảnh rang đâu lo việc của mình? Nhờ ẩn đi không ai biết tên thấy mặt, mới từ từ nuôi dưỡng cái cao siêu của mình, mới gội rửa dần những cấu bợn nơi mình, rồi sau mới có thể làm được đôi chút lợi ích thật sự cho người. Cứ mãi hòa trong cái ngàu đục thì biết đến bao giờ mình mới trong?…”

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 29: Sống với chơn tâm

“…Con người và muôn vật đều bị cuốn phăng theo dòng thời gian bất tận. Sự chết sống sanh diệt của người và vật đều ứng hợp theo thời tiết. Hoa nở, bướm lượn tìm hương đều lệ thuộc hẳn vào mùa Xuân. Nếu chúng ta cứ bám víu vào bản thân vào ngoại cảnh thì ôi thôi, dòng luân hồi sanh tử lôi cuốn chúng ta không biết đến đâu cho cùng… !

Chúng ta phải gan dạ nhìn thẳng vào lẽ thật của bản thân của ngoại cảnh, mới thấy chúng là tướng trạng tạm bợ vô thường, là giả hình bởi nhân duyên chung hợp. Quả thật là huyễn hóa không có một tí gì chắc thật. Chỉ Chân tâm của chính mình, mới là cái chân thật bất sanh bất diệt, mà lâu nay chúng ta đã lãng quên. Giờ đây, chúng ta phải quả quyết sống thật với nó, không một phút giây nào lơi lỏng. Ấy là chúng ta đặt chân trên đường giải thoát, cởi bỏ sợi dây sanh tử luân hồi.”

(trích “ Xuân Trong Cửa Thiền ” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 30: Muôn pháp không có lỗi, lỗi là ở mình

“…Nhiều người than: ở đời nào là tài sắc, danh lợi quyến rũ thành ra khó tu. Quý vị thấy có quyến rũ không? Sắc tài đâu có quyến rũ, tại mình chạy theo nó rồi đổ thừa nó quyến rũ. Như cái đồng hồ trên bàn này có quyến rũ ai đâu? Tại mình dấy niệm tham, lấy nó rồi đổ thừa nó quyến rũ mình. Như vậy không có gì quyến rũ mình hết, tại tâm mình chạy theo. Người ta vì không có tinh thần trách nhiệm, nên cứ đổ thừa. Đổ thừa là căn bệnh vô trách nhiệm của con người, luôn luôn có lý do để đổ thừa chớ không bao giờ nhận lỗi.

Chúng ta hiểu như vậy thì muôn pháp đối với chúng ta không có lỗi lầm gì hết, lỗi lầm là ở chỗ chúng ta dấy niệm.”

(trích "Tín Tâm Minh _ Giảng giải" – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 31: Đường tu dài hay ngắn là do mình

“…Bình thường thấy ai cũng tốt, gặp việc mới biết tập khí nhiều đời rất khó bỏ. Ðó là chỉ nói một món nóng giận mà chúng ta cũng chưa thể định bao lâu mới bỏ hết, huống nữa còn bao nhiêu thứ khác, nhiều quá!

Vậy nên trên đường tu, chúng ta đừng nghĩ một vài năm, hoặc năm mười năm là hoàn toàn trong sạch, mà có thể là thời gian rất dài. Dài chừng bao lâu? Nếu giỏi lắm cũng phải suốt một cuộc đời, còn chưa giỏi thì năm mười kiếp, chớ không thể một đời là xong. Còn nếu chậm nữa thì Phật nói ba a-tăng-kỳ, tức là ba vô số kiếp mới hết tập khí.

Chúng ta thấy từ khi bắt đầu đi trên con đường tu, đến giác ngộ giải thoát là chặng đường rất dài, dài gần như là thăm thẳm, nhìn không thấy chỗ cuối. Nhưng kiểm lại thân của chúng ta, quí vị có ai biết chắc là mình sống được bao lâu không? Ai dám quả quyết là tôi tám mươi, chín mươi tuổi mới chết không? Không ai bảo đảm được điều đó. Lúc nào chúng ta cũng thấy việc chết sống thật là bất thường, không cố định.

…Thời gian qua rồi chúng ta không thể tìm lại được. Một cây số đã đi qua mình không có quyền trở lại, mà phải đi đến chỗ cuối cùng của nó. Chúng ta qua một chặng đường là thấy ngày kết thúc đời mình gần hơn. Ðừng bao giờ mơ ước rằng chúng ta sẽ trở lại những ngày thuở nào, nghĩa là không thể mong trở lại cái thuở còn mười tám, hai mươi, mà nhất định phải đi, đi cho tới chỗ cuối cùng…”

(trích “Xuân Phụng Hoàng” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 32: Vô thường

“Sở dĩ các pháp biến chuyển không cố định, vì bản chất nó là vô thường và vô ngã. Chúng ta định nghĩa sống là gì? – Là động. Còn luân lưu biến động là còn sống. Dừng sự biến động là chết. Bản thân ta là động, muôn vật là động. Đã là động thì biến chuyển đổi dời, đấy là vô thường. Sống trong biển biến động vô thường của vạn vật mà chúng ta muốn nó được thường, thật là một điều không bao giờ có. Hành tinh chúng ta đang ở, nó quay tròn mãi không dừng, nếu dừng lại là nổ tung. Chính thân chúng ta, tim đập mãi không dừng, một khi nó dừng là chúng ta chết. Con người và muôn vật đều bám vào quả đất mà sống, bản thân quả đất lại quay cuồng, thì con người và muôn vật làm sao an định được. Cho nên sự tồn tại của quả đất, cũng như sự tồn tại của muôn vật là động, đấy là lý vô thường Phật đã dạy. Thấu triệt lý vô thường này, chúng ta sẽ cười trước mọi biến đổi, nhất là sự biến đổi của thân ta đến lúc bại hoại.”

(trích “Tất Cả Pháp Không Cố Định” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 33: Sống với Pháp thân, trở về quê hương

“Cái vui của người tu là cái vui của kẻ lạc loài trở về cố hương. Có một số người đang ở quê hương rất an lành, nhưng bất thần nghe theo sự xúi giục của ai đó (ma vương) họ ra đi lang thang từ xứ này qua xứ khác nhiều tháng nhiều năm. Không có công ăn việc làm, họ phải chịu đói rét khổ sở. Một ngày kia chợt thức tỉnh họ muốn trở về cố hương, lại rủ nhau cùng về. Về đến cố hương tất cả đều gặp lại thân bằng quyến thuộc, sống ở quê hương rất an lành, sung túc, các khổ đau lạc loài, thiếu thốn lang thang không còn nữa.

Đó là cái vui của người trở về cố hương Nơi quê hương đã sẵn mọi tiện nghi tốt đẹp, đó là quê hương pháp thân, quê hương này không bao giờ có khổ đau, không bao giờ có sanh tử. Vì quên quê hương nên chúng ta bị vô minh phiền não xúi giục, dẫn đi lang thang trong vòng sanh tử. Giờ đây thức tỉnh trở về quê hương, bỏ đi nếp sống lang thang. Ngược dòng trở về với Pháp thân, tức là trở về cố hương, trở về quê hương muôn đời thì hết những khổ đau vất vả của nhiều năm tháng trước. Đó mới chính là cái vui chân thật”.

(trích “XUÂN TRONG CỬA THIỀN ” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 34: Phật, Tổ, Thầy

“…Chúng ta nhờ Phật đã chỉ cho một con đường tu hành tiến tới giác ngộ, giải thoát sanh tử, thật là một công đức lớn vô kể. Rồi được các vị Tổ tiếp nối truyền bá đến nay. Trực tiếp nhất là Thầy chỉ dạy hướng dẫn cho mình. Bao nhiêu người đó đều mong mình tu hành, trở nên người tốt, đầy đủ đạo đức để làm lợi ích cho đạo, cho chúng sanh. Vậy mà mình không nỗ lực, không cố gắng tu thì làm sao đền được lòng tốt của Thầy, công của Tổ và người khai sáng là Phật?

Nhớ đến Phật, Tổ, Thầy, chúng ta cố gắng tu cho xứng đáng với ý nghĩa truyền đăng tục diệm, tức là trao đèn nối đuốc, để cho ánh sáng trí tuệ của Phật pháp được sáng rỡ mãi ở thế gian. Ðó là trách nhiệm mà tất cả Tăng Ni không ai có thể thiếu được…”

(trích “Xuân Phụng Hoàng” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 35: Phước và Huệ

“…Quí Phật tử đừng nghĩ là làm có tiền để cúng chùa, làm từ thiện, hoặc giúp đỡ kẻ này người kia, tạo phước, là đủ. Trong nhà Phật thường dạy phước phải đi đôi với tuệ. Tuệ là trí tuệ. Phước đức và trí tuệ hai cái phải đầy đủ, đi đôi với nhau chớ không phải được một bên còn thiếu một bên. Có phước mà không có trí tuệ thì phước đó dễ làm cho người ta sa đọa. Do có phước, chúng ta được sanh làm người giàu sang, quyền thế, nếu không có trí tuệ thì dễ bị trụy lạc, dễ tạo tội lỗi. Vì vậy, phước phải đi đôi với tuệ.

Trí tuệ ở đây không phải trí tuệ thế gian mà là trí tuệ của đạo. Chúng ta phải thấy rõ được lẽ thật của bản thân mình, của cuộc đời, đừng có lầm lẫn. Muốn thấy được lẽ thật đó, chúng ta phải học lời Phật dạy, phải nghe kinh để mình thâm hiểu và ứng dụng vào trong cuộc sống.

Ðừng chỉ đem sức mình làm ra tiền cúng chùa giúp người, tưởng như vậy là đủ. Chúng ta phải hiểu lời Phật dạy, thấu được lý đạo, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày của mình, làm sao vừa có phước, vừa dẹp bớt tham, sân, si và sống một cuộc đời thanh cao tốt đẹp. Ðó mới là xứng đáng…”

(trích “Xuân Phụng Hoàng” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 36: Xuân trong nhà Phật

“Nói đến ngày Xuân, chúng ta có cảm tưởng như chỉ có Xuân ở thế gian, nhưng thật ra trong nhà Phật cũng dùng chữ Xuân để nói lên những ý nghĩa thâm trầm của Đạo. Trước tiên chúng tôi nhắc quí vị, tất cả chúng ta có đủ phước duyên nên ngày nay chọn được con đường của mình đang đi, một con đường thênh thang, tươi mát và an lạc.

Nói như vậy có vẻ như chúng tôi chủ quan, nhưng sự thật nếu tất cả chúng ta đều một lòng hướng thẳng về sự tu hành, đi theo con đường đức Phật đã dạy, thì mỗi bước đi là một bước an lành, mỗi một bước đi là rơi rụng bao nhiêu đau khổ. Thế nên con đường tươi đẹp và mát mẻ chúng ta đang đi là tượng trưng cho mùa Xuân, nhất là những ngày đầu Xuân.”

(trích “XUÂN TRONG CỬA THIỀN ” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 37: Đại ý Phật Pháp

“ …Đại ý Phật pháp không có gì lạ. Nói thẳng e quí vị phiền, mà không nói e cho rằng giấu giếm. Đại ý Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp tức là chấp mình chấp người, quyền thế, danh vọng v.v… Như vậy cái mà buông tất cả đó là đại ý Phật pháp.

Chính buông hết rồi, mình mới được một quảy lên vai tự tại. Cho nên nhà chùa có câu “bỏ tất cả là được tất cả”. Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả thì mình còn tham quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát. Vì vậy trong nhà Thiền nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là phá chấp. Xả được là xong việc…”

Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát.

(trích “Xuân Trong Cửa Thiền” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 38: Mộng

“ …Nếu căn cứ vào hiện tại, từ con người cho đến sự vật chung quanh mình đều theo dòng thời gian mà biến đổi, sanh diệt từ phút, từ giây, từ sát-na, không dừng lại ở đâu hết. Chúng ta thấy rõ ràng là dòng thời gian hư ảo. Nó đã chi phối hết cả cuộc sống của chúng ta, từ thân mình cho đến ngoại cảnh. Không có cái gì không bị chi phối. Khi dòng thời gian đã hư ảo thì kiếp sống của con người cũng hư ảo, sự vật chung quanh cũng là hư ảo.

Như vậy có thể kết thúc rằng: Chúng ta lần bằng những xâu chuỗi mộng, những hạt chuỗi mộng. Từng tháng từng năm, chúng ta mặc chiếc áo mộng đan dệt bằng những sợi tơ mộng. Chung quanh chúng ta toàn là mộng, mà không hay. Chúng ta lỡ sống như vậy rồi mà lại đua nhau giành giật danh lợi tài sắc, trong cái mộng đó, tạo không biết bao nhiêu đau khổ huyết lệ cho nhau. Đó là vì chúng ta không biết cuộc đời là ảo mộng. Nếu hôm nay thấy rằng chúng ta sống trong chuỗi mộng, mặc những chiếc áo mộng thì còn gì mà đắm mê tham luyến cảnh mộng ấy nữa. Thân mình và ngoại cảnh là không gian, ba thời quá khứ hiện tại vị lai là thời gian. Tất cả là một dòng mộng có gì thật là mình. Lâu rồi chúng ta cứ mê lầm tưởng là thật, rồi tính thời gian để định số tuổi, hãnh diện sống dài ngắn v.v… Lượm lặt những sự vật vô thường ở chung quanh, cho đó là sự việc của mình. Kiểm điểm lại chỉ là lần chuỗi mộng, mặc áo mộng mà thôi…”

(trích “Xuân Trong Cửa Thiền” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 39: Từng phần giác

“…Phật dạy chúng ta từ bi là khi chúng ta đã có giác ngộ và giải thoát phần nào dù nhiều hay ít. Có nhiều người nói: Mình chưa giác ngộ như Phật làm sao có từ bi? Chúng tôi thí dụ: Như chúng ta đang cùng ở trong một căn nhà tối mù mịt, nếu người nào có được cây đèn cầy và thắp lên, tuy ánh sáng nhỏ thôi nhưng đem lại giữa nhà thì mọi người cùng được sáng. Cũng như ban đêm chúng ta đang đi trên con đường tối, nếu có ai thắp được một cái đèn dầu nhỏ thì gọi những người bạn đồng hành cùng nương theo ánh sáng đó để đi cho khỏi rơi hầm rớt hố. Ánh sáng của ngọn đèn tuy nhỏ nhưng rất cần cho những người đang đi trong đêm tối. Đó là trường hợp chúng ta tu được một chút trí tuệ và một chút giải thoát. Nếu tu khá hay giỏi hơn chúng ta sẽ được những ngọn đèn lớn sáng hơn, như đèn bấm hay đèn “măng sông” hay nếu giỏi hơn nữa như ánh sáng mặt trăng mặt trời soi khắp cả thế giới. Như vậy ánh sáng nào dù của đèn dầu hay của mặt trăng mặt trời cũng có giá trị riêng của nó. Hiện nay nếu được một chút ánh sáng nào chúng ta cũng đều chia sớt cho mọi người cùng hưởng để tránh những tai nạn có thể xảy đến. Sự chia sớt đó gọi là từ bi.

Thế nên người Phật tử tại gia hay xuất gia không có quyền thọ hưởng riêng một điều gì. Quí vị nhớ khi tụng kinh xong thì chúng ta cầu nguyện công đức tu hành hướng về không phải cho riêng mình mà cho mình và mọi người đều thành Phật đạo, đó là tâm từ bi. Phật không cho phép chúng ta làm điều gì chỉ nghĩ riêng mình mà phải nghĩ mình và mọi người cùng chung hưởng…”

(trích “Xuân Trong Cửa Thiền” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm với Tăng Ni & Phật tử)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 40: Sống hợp Đạo lý

“…Muốn có trí tuệ của đạo để thấy rõ được lẽ thật của bản thân mình, của cuộc đời, để tự mình thâm hiểu và ứng dụng vào trong cuộc sống, quí vị phải chịu khó học đạo và tập tu, những khi thấy có thể được thì phải tập tọa thiền, sám hối để cho tâm mình bớt nhiễm nhơ. Tâm được yên định phần nào, trí tuệ mới sáng suốt, như vậy đời tu của mình mới có tiến. Trên con đường tu hành, chúng ta là con người hướng thiện, hướng tới mục tiêu cao cả tốt đẹp, vì vậy phải có cái nhìn cho đúng với lẽ thật, làm việc lợi ích cho chúng sanh. Ðừng nên có những ý niệm không hợp đạo lý, hay những hành động làm đau khổ chúng sanh.
Như vậy quí vị mới xứng đáng là người đệ tử cư sĩ ở trong nhà đạo, mới thấy trong cuộc đời của mình, thời gian này có mất đi thì sau càng quí càng tốt hơn chớ không lo, không sợ. Nếu chúng ta cứ nghĩ thụ hưởng cho sung sướng, làm cho được những điều mình thích, mà không nghĩ tới sự đau khổ của người khác, không nghĩ tới tổn thương đạo lý, đó là sai lầm.

Vậy hôm nay ngày cuối năm, tôi nhắc nhở tất cả quí vị chuẩn bị sang năm mới, tu tiến hơn và làm những điều tốt đẹp, cao thượng hơn…”

(trích “Xuân Phụng Hoàng” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm với hàng cư sĩ tại gia)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 41: Tiến mãi trên đường tu

“…Hôm nay quí vị đến đây chúc mừng năm mới, chúng tôi không có gì hơn là nhắc nhở quí vị nhớ rằng con đường mình đã chọn là con đường rất tốt đẹp, rất an lạc. Chúng ta hãy nỗ lực tiến trên con đường đó, làm sao một đời này nếu chúng ta chưa đến tận đích, ít ra chúng ta cũng đi được nửa phần hoặc hai phần đường. Rồi qua một đêm ngủ chúng ta lại tiếp tục đi nữa, chớ không chần chờ để mất hết thì giờ, rồi phải chịu đau khổ như bao nhiêu người không có đủ phước duyên như chúng ta.

Chúng tôi mong rằng sang năm mới này, tất cả Tăng Ni cũng như toàn thể Phật tử, đồng nắm tay nhau tiến mãi, đừng lùi đừng nghỉ, tiến mãi trên con đường rộng lớn tươi đẹp an lành cho đến ngày đạt được mục đích mới thôi…”

(trích “Xuân Trong Cửa Thiền” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm với Tăng Ni & Phật tử)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 42: Càng tu càng tươi vui

“Trong đạo, các Thiền sư cũng dùng chữ Xuân để nhắc nhở chúng ta. Nhờ lời khuyên dạy của các ngài, chúng ta càng tu càng phấn khởi hơn, càng vui thích hơn, nếu không thì tu lâu sẽ cảm thấy ngán và buồn. Tại sao ngán buồn? Vì ăn chay ăn lạt suốt đời, lại thêm thức khuya dậy sớm, bị rầy bị quở. Cho nên ở chùa lâu ngày cảm thấy ngán buồn nếu không tìm được nguồn vui, nguồn vui đó các Thiền sư dùng chữ Xuân để diễn tả. Vậy chúng ta phải cố gắng đi mãi trên con đường tươi đẹp đã chọn dù phải vấp té trầy chân hay gặp những hòn sỏi phiến đá trở ngăn. Nhưng dù những chướng ngại có khó khăn bao nhiêu cũng không thể ngăn cản được bước chân của những tâm hồn khoáng đạt, của những con người nguyện quyết tiến đến chỗ an lạc miên viễn mới thôi.

Người tu là người thấy tương lai mình xán lạn tươi vui, chớ không phải càng tu rồi càng tối tăm đau khổ. Chính mỗi bước tu là mỗi bước chúng ta huớng về mục tiêu cao quí nhất, an lạc nhất của đời mình. Vì vậy khi nói đến ngày Xuân chúng ta cảm nhận một niềm vui tràn đầy ở ngày mai…”

(trích “Xuân Phụng Hoàng” – Huấn từ của Sư Ông Trúc Lâm với Tăng Ni & Phật tử)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 43: Chánh Pháp, và mạt Pháp

“…Chánh pháp hay mạt pháp cũng gốc tại lòng mình. Quyết chí tiến tu, ấy là chánh pháp, khởi lòng lui sụt, ấy là mạt pháp. Phật đâu không từng nói: “Người tuy ở xa ta ngàn dặm mà nghe lời ta dạy y cứ tu hành thì chẳng khác nào ở cạnh ta”. Như vậy chúng ta tuy cách Phật hơn 2.500 năm mà y theo lời Phật dạy thực hành thì cũng giống như được sống trong thời có Phật. Sở dĩ nói thời mạt pháp khó tu, là vì chúng ta giải đãi là một, ý chí yếu hèn là hai. Nếu ở thời mạt pháp mà chúng ta lập chí cho vững, tinh tấn không dừng thì mạt pháp đã trở thành chánh pháp.

Thí dụ: xứ mình là xứ nóng, nhưng người xứ lạnh sang đây ở, họ trang bị phòng có máy lạnh thì họ đâu còn thấy nóng nữa. Như vậy họ đã chuyển nóng thành mát, đổi xấu thành tốt. Đó là nói về vật chất huống nữa là tinh thần. Như trong thời khó tu nếu ý chí chúng ta mạnh thì có thể đổi hết.

Người có chí việc khó biến thành dễ, người không có chí việc dễ biến thành khó. Vì thế quí vị không nên than phiền, mình sống trong thời mạt pháp khó tu, mà chỉ nên than phiền sao chúng ta lười biếng đua đòi! Như thấy người ta sắm radio nghe vui vui, mình cũng bắt chước sắm theo; đua đòi như thế tất bị chi phối, khi đã bị chi phối rồi thì việc tu càng ngày càng bê trễ, đó là bệnh của chúng ta chớ không phải bệnh của thời đại. Thời đại cũng là một yếu tố làm cho chúng ta khó tu, song biết đâu nếu chí chúng ta mạnh thì đó cũng là cái hay giúp chúng ta tiến tu. Đừng bi quan vì nghĩ là đời mạt pháp, mà chỉ nên tự thẹn mình không có chí. Vì thế, Tổ dạy chúng ta phải lập chí giải thoát, nhất định chúng ta sẽ ra khỏi cõi trần một ngày gần đây, chớ không để đắm chìm mãi mãi. Chúng ta phải luôn luôn nhớ áp dụng bốn câu này vào đời tu của mình, mới thật là người xuất gia chân chánh…”

(trích “Quy Sơn Cảnh Sách _Giảng giải” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 44: Chơn tâm bất sanh bất diệt

“…Sở dĩ chúng ta nói tâm của mình nhơ, tâm của mình nhiễm là tại vì chúng ta dùng cái tâm sanh diệt chạy theo trần cảnh nên mới nhơ, mới nhiễm. Chớ Tâm chân thật không có hình tướng, làm gì có nhơ, làm gì có nhiễm. Hằng ngày chúng ta chỉ sống với tâm sanh diệt, chỉ sống với tâm đối đãi phân biệt. Đó là tâm hư ảo mà chúng ta cho là tâm mình, cho là tâm thật. Vì vậy mà nó bị nhơ bị nhiễm. Hay nói như ngài Thần Tú là nó bị bụi bặm dính. Chúng ta nhận sâu thấy rõ được Tâm chân thật tức là Thể tánh bất sanh bất diệt của mình, thì cái đó không có gì làm nhơ, không có gì làm nhiễm được hết. Vì vậy Lục Tổ nói “bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, tức là xưa nay không một vật thì chỗ nào dính bụi nhơ được. Có vật thì mới dính, không vật thì làm sao dính…”

(trích “Trọn Một Đời Tôi” – Hòa thượng Trúc Lâm)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 45: Tu là giác ngộ

“…Đã nói tu là giác ngộ, mà giác ngộ thì phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, mới được giác ngộ. Trí tuệ có mở sáng thì sự giác ngộ mới có thể đến được. Trí tuệ mù tối thì không bao giờ giác ngộ được. Như vậy nói tới người tu, lý đáng ít nhiều cũng phải giác, chớ không có mê. Mà giác thì phải trí sáng. Nhưng bây giờ, chúng ta thấy rất đáng thương có nhiều nơi, có nhiều chùa tu chỉ là tin, chớ không có trí. Cúng Phật, Phật ban phước. Lạy Phật được công đức. Làm cái gì cũng nhờ Phật ban phước, nhờ Phật độ cho. Bị tham sân si quấy nhiễu, sống bực bội khổ sở, lên chùa thắp hương cầu nguyện Phật gia hộ cho con hết phiền não. Con phiền não nhờ Phật gia hộ cho con hết phiền não. Cái gì cũng Phật hết. Mình không có tu, chỉ xin Phật, cầu Phật cho không thôi. Cứ vậy là tu bằng trí tuệ hay là bằng lòng tin? Nếu bằng lòng tin thì không phải là trí. Mà không phải trí thì không có giác. Nếu không giác thì làm sao? Thậm chí nhiều khi tôi rất buồn, người Phật tử của chúng ta cứ ỷ lại vào chư Tăng chư Ni. Nếu có bệnh thì nhờ thầy cầu an. Nếu chết thì nhờ thầy cầu siêu. Cứ cúng tiền cho thầy cầu an, cúng tiền cho thầy cầu siêu. Như vậy là hài lòng, cho là tu kỹ rồi đó.

(trích “Hoài Bão Của Tôi” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 46: Thấy rõ bản chất để tiến tu

“Đường lối của Phật dạy cụ thể, thực tế làm sao, không có cái gì huyền hoặc, không có cái gì mê tín. Mà chúng ta bây giờ không chịu tu như vậy, không chịu quan sát, không chịu tìm hiểu mà cứ đặt lòng tin. Tin ở Phật ban, tin ở Phật cứu, tin ở Phật độ mà không nghe lời Phật, để quan sát để chiếu soi kỹ, rồi ứng dụng cách Phật dạy để tiêu trừ những thứ mê lầm của mình. Tiêu trừ được mê lầm thì mình mới hết khổ. Chúng ta không chịu làm cái đó thì làm sao hết khổ! Cho nên tu thì thật đông, mà chưa chắc có vị nào hết khổ. Có người tới hỏi thầy tu từ bé đến giờ thầy hết khổ chưa? Ai dám nói tôi hết khổ không, kể cả Tăng Ni? Nói tôi tu hồi mười tuổi, hai mươi tuổi gì đó, bây giờ đầu đã bạc rồi mà vẫn khổ như thường. Bởi vì mình không biết được nguyên nhân của khổ. Cũng không diệt sạch cái nhân khổ thì quả khổ làm sao hết được?.

Cho nên tôi nói chúng ta tu phải nắm cho vững, phải hiểu tường tận cái gì làm cho chúng ta đau khổ. Những nguyên nhân đó chúng ta diệt được rồi thì khổ theo đó mà hết. Quí vị đọc kinh Phật, nhiều khi thấy dường như là bi quan. Phật nói thân này là nhơ nhớp, là bất tịnh để phá cái ái ngã. Có chỗ Phật nói thân này như huyễn như hóa… như kinh Kim Cang, Bát-nhã v.v… để phá cái ngã. Tất cả những cái đó chỉ dùng trí tuệ quán chiếu thấy rõ nó là nhớp nhúa đúng như thật. Thấy rõ nó là duyên hợp tạm bợ đúng như thật. Thấy tường tận như vậy thì mình hết ái ngã. Hết ái ngã thì mọi cái khổ theo đó hết. Như vậy có phải là quán chiếu không? Quán chiếu tức là soi sáng. Soi sáng lại mình, thấy tường tận con người mình. Rồi thấy được nguyên nhân nào làm cho mình phải đau khổ. Thấy tột cùng, đó là mình quán chiếu. Quán chiếu thì trí tuệ mình sáng. Thấy đúng như thật là trí tuệ. Thấy đúng như thật về thân, thấy đúng như thật về tâm là chúng ta có trí tuệ. Còn không chịu quán chiếu mà cứ cầu xin Phật thì làm gì có trí tuệ?”

(trích “HOÀI BÃO CỦA TÔI” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 47: Tin nhân quả không đổ thừa

“Ở đời thiên hạ hay đổ thừa tại cái này, tại cái kia, ít khi nào mình làm một điều dở, một điều xấu mà nói lỗi đó tại tôi. Tại cái này, tại cái kia tôi mới làm vậy đó, đổ bên này, đổ bên nọ, đổ bên kia, đó là trốn tránh trách nhiệm. Nếu chúng ta hiểu được lý nhân quả, việc tốt hay xấu đến với chúng ta đều do chúng ta tạo. Cho nên bây giờ nó đến mình can đảm nhận, dám làm thì dám chịu, có trách ai đâu. Như vậy là mình can đảm, không trốn tránh trách nhiệm.

Phật tử bây giờ yếu đuối quen rồi nên không dám nhận trách nhiệm. Không can đảm nhận trách nhiệm thì trên đường tu làm sao tu chân chánh được? Muốn tu chân chánh tất cả chúng ta phải gan dạ, phải can đảm thì sẽ có kết quả trăm phần trăm, không nghi ngờ. Ngược lại, chúng ta chưa phải là những người tu theo lời Phật dạy mà chỉ bắt chước thôi.

…Người tin nhân quả là người gan dạ, can đảm, còn người không tin thì không gan dạ, không can đảm, tại sao vậy? Bởi vì tin nhân quả nên việc gì tốt là do mình tạo thì mình thành công. Mình thành công là do nhân mình làm nên quả mình hưởng, không có gì ngạo mạn cho mình là hơn. Nếu mình gặp điều xấu là do nhân mình không khéo tạo cho nên quả xấu đến với mình. Như vậy là cũng tại mình chớ không trách ai hết.”

(trích "Chúng Ta Đi Chùa Để Cầu Xin Hay Để Tu Học Theo Phật?" – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 48: Cảm thông và chưa cảm thông

“…Phật dạy, muốn điều hòa phải tập hai đức tánh: nhẫn nhục và hỉ xả, tức là thế gian nói nhẫn nhịn và tha thứ. Muốn nhẫn nhịn và tha thứ thì trước tiên chúng ta phải có cái nhìn thật đạo lý.

Có lần tôi được hỏi rằng: Thầy làm Phật sự có gặp những trở ngại do người khác tạo ra không?

Tôi nói: Có!

Hỏi: Như vậy Thầy nghĩ sao về người gây trở ngại cho Thầy?

Tôi trả lời: Trước mắt tôi không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm thôi…”

(trích “Cuộc Đời Là Mâu Thuẫn” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 49: Tâm Bệnh Của Chúng Sanh

“…Ở thế gian, thầy thuốc trị về thân bệnh. Trong đạo, Phật trị tâm bệnh. Giữa hai việc điều trị đó, việc nào quan trọng hơn? – Điều trị tâm bệnh quan trọng hơn. Bởi vì dù thầy thuốc hay mấy, biết bệnh nhân đang bị đau tim, hay đau phổi, thầy thuốc có thuốc nhưng người bệnh cứ rầu, cứ buồn, thì trị nổi không? – Không nổi. Vì tâm người bệnh không an, không vui thì điều trị khó lành. Vì vậy nên tâm bệnh rất là hệ trọng. Nếu thầy thuốc có được hai phương thuốc, một trị thân bệnh, một trị tâm bệnh thì hay biết mấy. Trị như vậy mới toàn hảo, còn chỉ một phần thì chưa được.

Để trị tâm bệnh Phật dạy những pháp để tiêu trừ nguyên nhân sanh ra bệnh. Bệnh của chúng sanh tới tám muôn bốn ngàn, pháp của Phật cũng có tới tám muôn bốn ngàn. Nhưng nói về cội gốc của bệnh, thì có sáu thứ căn bản phiền não. Trước khi nói pháp trị bệnh chúng ta cần phải biết các thứ bệnh. Bệnh tình đó đang thế nào, muốn giới thiệu thuốc thì phải biết hậu quả hay hiện trạng bệnh đang hoành hành ra sao.

Bây giờ thử nghiệm lại tất cả chúng ta trong hiện đời khổ hay vui? Nếu vui thì không có bệnh, không bệnh thì cần gì thuốc. Nếu có bệnh mới tìm nguyên nhân gây bệnh và trị bằng cách nào. Trong nhà Phật nói con người bị bốn, hoặc tám thứ khổ vây hãm, không ai thoát khỏi. Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, có ai khỏi đâu? Như vậy quả thật chúng ta là bệnh nhân rồi. Ngoài ra còn ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Nghĩa là thương yêu xa lìa khổ, oán thù mà gặp mặt hoài khổ, mong muốn không được khổ, thân này tự bại hoại không an khổ. Kiểm lại trong tám thứ khổ chúng ta đều có đủ. Rõ ràng xác định được chúng ta là bệnh nhân rồi, thì mới nói tới trị liệu.

Muốn trị bệnh thì phải phăng tìm nguyên nhân. Nguyên nhân nào sanh ra những thứ khổ đó. Phật nói nhiều lắm nhưng ở đây tôi chỉ kể sáu thứ: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Vì có nhân này nên có quả kia. Thí dụ như tham, căn bản là tham sống. Có người nào không tham sống sợ chết đâu? Nhưng rồi cũng phải chết, bởi vậy nên khổ. Bây giờ mình hết tham sống thì không sợ chết. Mà không sợ chết thì đâu còn khổ…”

(trích “Tâm Bệnh Của Chúng Sanh” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 50: Tam đề ngũ quán

"Phật dạy Tỳ Kheo ăn cơm phải “Tam đề ngũ quán”. Nhưng thường chúng ta thấy phần đông chỉ quán lấy lệ, chỉ có hình thức bên ngoài chứ chẳng thật tâm quán tưởng. Ngũ quán tức năm điều quán tưởng, đó là:

1. Xét công mình tu hành được nhiều hay ít, và xét của ấy từ đâu đem đến cúng dường, xem mình có xứng đáng nhận thọ hay không? Nếu không xứng mà thọ công khó nhọc của người thì mang nợ. Vì thế, chúng ta phải luôn luôn nhớ, hổ thẹn mà cố gắng tu hành làm sao cho xứng đáng.

2. Xét lại đức hạnh của mình, được những điểm ưu nào, còn những điểm khuyết nào để sửa.

3. Xét ngừa tâm tham của mình, không để nó xâm lấn. Giả sử lên bàn ăn thấy toàn rau muống luộc rồi sanh ngán, nghĩ đến món ăn ngon. Như vậy là có lỗi tham ăn. Chúng ta phải nhớ ngừa tâm tham ấy chớ đòi hỏi, ăn sao cũng được miễn sống để tu hành là quí rồi.

4. Nên xem việc ăn uống chỉ là món thuốc để trị bịnh. Như khi đói quá thì tay chân rũ liệt, không muốn nói cũng không muốn đi, đó là bịnh chớ gì? Rồi sau khi ăn vài chén cơm thấy khỏe… Vậy cơm là thuốc trị bịnh. Mà đã là thuốc thì dù thuốc đắng thuốc ngọt gì cũng uống, uống cốt để trị bịnh thôi, đừng chê khen gì cả. Nếu chúng ta ăn mà nghĩ ngon dở tức là đã lệ thuộc vào cái lưỡi, chứ không phải ăn để trị bịnh. Nếu ăn để trị bịnh thì dù đắng cay ngon dở gì cũng được, miễn trị được bịnh đói thì thôi.

5. Nghĩ mình tu là quyết định thành đạo nghiệp. Tức phải thể nhập bản thể của mình, kế đó thực hành công hạnh viên mãn, cho nên mới ráng mà thọ món ăn này, chớ chẳng phải no đủ để vui chơi.

Chúng ta thấy có rất nhiều người lầm khi nói: ăn thứ này bổ có thể lên cân, ăn thứ kia lâu ngày sẽ sụt ký… Như vậy đó là chúng ta vì mập ốm chứ chẳng phải vì đạo nghiệp mà ăn. Chúng ta ăn cốt để tu hành thành đạo độ sanh, đó là ý nghĩa mà Phật bắt phải quán trước khi ăn. Thế mà hiện nay có người dám tuyên bố trước đại chúng rằng: “Ăn chay đã quá lắm rồi, tại sao lại phải “tam đề ngũ quán?” Nghe như vậy tôi cảm thấy thực buồn. Bởi vì chúng ta đã sẵn bịnh buông lung, nếu không hằng xét mình thì dễ bị nghiệp lôi, nên Phật bắt chúng ta trong tất cả hành động đều phải tỉnh giác, không để cho thói xấu xâm nhập. Khi ăn chúng ta khởi Tam đề ngũ quán là để xứng với tư cách của người cầu giải thoát. Nếu chúng ta không xét, không nghĩ, vừa ăn vừa cười hỷ hả nói chuyện nhảm nhí thế gian, thì thực là trái đạo…"

***
(trích "Quy Sơn Cảnh Sách – Giảng Giải" – HT. Thích Thanh Từ")

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 51: Ý nghĩa đời tu

“…Quí vị phải nghĩ tới đời tu của mình là tối quan trọng. Người đang mê chìm trong luân hồi sanh tử, chúng ta tỉnh thì phải thoát ly sanh tử. Tỉnh mà cũng đi theo cái mê của người khác, như vậy uổng đi một đời tu, không có giá trị gì. Không nuôi cha nuôi mẹ, không làm lợi ích xã hội, chỉ lo tu mà không chịu tu, thật không hiểu nổi. Đó là những điều tôi thấy cần phải cảnh tỉnh, nhắc nhở Tăng Ni đừng lầm lẫn như vậy. Đi tu là để thoát ly sanh tử, không chấp nhận đi trên đường trầm luân, phải đi trên đường giải thoát. Muốn giải thoát trước phải phá si mê, si mê bớt tham sân mới bớt. Tiến theo con đường này chúng ta sẽ cứu được mình, cứu được nhiều người.”

(trích “TOÁT YẾU LÝ BÁT NHÔ – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 52: Giải thoát sinh tử

“Người học Phật ngày nay nhìn hơi cạn cợt, cứ nghĩ tu theo Phật để tâm mình yên một chút, biết thương người một chút, cúng Phật mong đời sau được sung sướng hơn đời này một chút. Chỉ lo chừng ấy thôi. Đó không phải là mục tiêu đức Thích Ca nhắm tới. Mục tiêu của Ngài là làm sao đưa con người tới chỗ giải thoát sanh tử.”

(trích “Sự Sai Biệt Giữa Phật Học và Khoa Học” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 53: Tu để hết si mê

“Trọng tâm của đạo Phật là chỉ cho chúng ta si mê là nguồn gốc của đau khổ. Cho nên muốn hết khổ phải bứng tận gốc si mê. Vì si mê nên chúng ta tạo nghiệp, nghiệp này chưa hết tạo nghiệp khác, như vậy mãi mãi đi trong luân hồi không có ngày cùng. Nếu thức tỉnh chúng ta dừng được nghiệp, thì có ngày giải thoát sanh tử. Đó mới thật là hết khổ. Vì thế nhà Phật lấy giác ngộ để độ chúng sanh, làm sao cho mọi người đều tỉnh, đều giác thì mới hết khổ. Còn giúp nhau trong sự mê muội, hết khổ này sang khổ khác, không bao giờ hết khổ. Ý nghĩa cứu khổ sâu thẳm nhất, là cứu cho mình và tất cả chúng sanh hết si mê.”

(trích “PHƯỚC HUỆ SONG TU” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 54: Tự mình tạo nghiệp

“Con người sống trong tưởng tượng nhiều hơn lẽ thật. Cứ nghe những lời vuốt ve, tán thưởng rỗng thì vui, còn lời nói thật lại buồn trách. Như vậy mới thấy chúng ta tu mà chưa giác. Nếu giác thì dù nói khổ, nói vui gì cũng biết nói rỗng. Chẳng qua mình tạo nghiệp lành hay dữ nên phải thọ quả, chớ có ai nói mà thành tốt xấu cho mình được. Chúng ta không cầu cúng, mong mỏi Phật ban cho cái này, cái nọ mà phải thật tâm chỉnh sửa lại cái xấu dở thành cái hay tốt, đó mới là thật tu.”

(trích "PHẬT PHÁP TẠI THẾ GIAN” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 55: Sanh diệt lặng tịch diệt hiện tiền

“Phật dạy chúng ta biết các hành đều vô thường, đều là pháp sanh diệt. Chúng ta đừng cố chấp, đừng luyến tiếc, đừng quá thương yêu, mà phải làm sao cho tất cả những thứ sanh diệt đó lặng hết, thì tịch diệt là niềm vui an lạc sẽ đến với chúng ta. Trong nội tâm của mình, nếu cứ lo nghĩ chuyện này chuyện kia dồn dập, lúc đó gương mặt mình héo sầu. Ngược lại, nếu tâm mình thơ thới, không có một niệm lo nghĩ nào hết, lúc đó gương mặt mình tự nhiên được tươi vui. Như vậy, cái sanh diệt lặng rồi thì tịch diệt (nguồn vui) hiện tiền. Nên người khéo tu lúc nào cũng tìm cách đưa tâm sanh diệt của mình đi đến chỗ lặng lẽ. Đó là nguồn an lạc lớn lao nhất của người tu.”

(trích "NGUỒN AN LẠC GIẢI THOÁT" – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 56: Hiền Thánh và đọa lạc

“…Nội tâm chúng ta đối nghịch nhau rất là phức tạp. Ở đây tạm chia tâm niệm thiện và tâm niệm ác đối nghịch nhau. Song khi niệm ác dấy lên thì niệm thiện ẩn đi, ngược lại khi niệm thiện dấy lên thì niệm ác trốn mất, hai thứ đối nghịch mà không đồng thời. Vì thế nếu biết tu, chúng ta luôn luôn nuôi dưỡng niệm thiện thì niệm ác lặn mất. Nếu người không biết tu, cả ngày dung chứa niệm ác thì niệm thiện không bao giờ xuất hiện. Nuôi dưỡng niệm thiện là bậc Hiền Thánh, dung chứa niệm ác là kẻ bạo tàn. Chúng ta trọn quyền tạo lập cho mình một chỗ đứng vào hàng thánh thiện, cũng chính chúng ta tự bước lùi vào hang quỉ, chỗ thú cầm. Không ai bắt buộc, không ai lôi kéo chúng ta đến nơi này hay nơi nọ. Do đó, đức Phật dạy chúng ta tu quán Từ bi để trừ tâm sân hận, quán Tứ niệm xứ để diệt mê lầm, hoặc niệm danh hiệu Phật để át tạp niệm… Chúng ta có đủ khả năng làm Hiền Thánh, chúng ta cũng có đủ chủng tử ngạ quỉ, súc sanh. Bởi vậy nói tu tâm là chúng ta khéo điều phục những tâm niệm xấu ác, nuôi dưỡng những tâm niệm hiền thiện. Khi sắp lâm chung, những tâm niệm nào mạnh sẽ lôi chúng ta đến cảnh tương xứng. Vì tâm niệm là gốc của luân hồi sanh tử.”

(trích “ CUỘC ĐỜI TƯƠNG ĐỐI MÀ! ” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 57: Con mắt trí tuệ

“Với con mắt của Phật giáo, muốn nuôi dưỡng tình thương cho được sanh sôi nẩy nở mãi và vượt ra ngoài phạm vi giới hạn, chúng ta phải dùng con mắt trí tuệ thấy rõ thân phận của con người. Sở dĩ chúng ta khép chặt cửa tình thương là bị tham lam cuồng nộ, si mê thôi thúc che đậy. Một khi con mắt trí tuệ mở sáng rồi thì ba con quỉ ác độc ấy bị yếu thế. Từ đó cánh cửa tình thương chúng ta mới mở rộng thênh thang. Làm sao chúng ta mở sáng mắt trí tuệ? Chúng ta phải nhìn xem, phải xét kỹ đời sống con người sự thật như thế nào? Mạng sống của chúng ta được bao lâu? Trong khoảng thời gian sống của chúng ta có an ổn hoàn toàn không? Những người trước chúng ta và đồng thời với chúng ta có thật sự hạnh phúc không? Chỉ cần quán sát kỹ ba vấn đề này thì con mắt trí tuệ của ta bừng sáng. ”

(trích “NGUỒN GỐC MÊ TÍN” – HT. Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 58: Tin nhân quả

“Nhiều người cứ than thở tại sao tôi làm lành, mà cứ gặp những vui buồn, tai nạn hoài. Nghĩ như vậy rồi nói không có nhân quả hay nhân quả không thật, không đúng. Như trong phố có một căn nhà bán, người khác lại mua. Họ làm ăn rất siêng năng nhưng cuối năm hỏi anh chị dư dả không, người đó nói tôi làm một năm rồi mà vẫn còn thiếu nợ. Lạ chưa! Tại sao làm ăn khá mà thiếu nợ? Truy nguyên ra khi mua căn nhà đó họ phải vay tiền. Làm ăn khá trả được phân nửa hoặc một phần ba, còn nợ lại phân nửa hoặc hai phần. Chớ không phải làm ăn khá liền hết nợ.

Cũng vậy, chúng ta làm lành nhưng nợ cũ còn, trả chưa hết thì quả lành chưa tới kịp. Khi nào chúng ta trả hết nợ cũ quả lành mới đến. Cũng như người mua nhà kia, ít ra phải hai ba năm làm ăn siêng năng cần mẫn, trả hết nợ rồi mới có dư. Đó là một lẽ thật. Cho nên đối với lý nhân quả, chúng ta phải nhìn xuyên từ quá khứ, hiện tại đến vị lai. Có khi hiện giờ chúng ta làm những điều rất tốt, mà chưa có quả tốt vì chưa tới giai đoạn chín muồi, phải qua đời sau mới hưởng được. Không bao giờ nhân tạo mà mất, nó vẫn còn nhưng đủ thời kỳ chín muồi mới thu gặt kết quả. Trong nhà Phật luật nhân quả được khẳng định, chớ không phải chuyện mơ hồ. Đó là một lẽ thật, không nghi ngờ gì nữa. Vì vậy tôi nói Phật pháp là lẽ chân thật.”

(trích “PHẬT PHÁP RẤT CHÂN THẬT” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 59: Tinh thần và thể xác

“…Tất cả chúng ta có mặt trên thế gian này, đều do không sáng suốt nên thường lầm lẫn, những điều không quan trọng hay ít quan trọng, chúng ta dồn hết tâm lực để lo, còn những điều tối quan trọng lại không để ý, không màng tới. Tôi sẽ tuần tự giảng giải điều này cho tất cả thấy rõ.

Như cuộc sống hiện giờ có ba việc ăn, uống, thở, trong đó chúng ta lo việc nào nhiều nhất? Thường người ta lo ăn nhiều nhất. Tối ngày chạy lo ăn, nhưng thật ra nếu nhịn ăn mấy ngày có chết không? Không chết. Kế đó là uống, nhịn uống hai ba ngày mới chết. Đến thở, nhịn bao lâu chết? Trong tích tắc, thở ra mà không hít vô là chết. Vậy mà người ta lại quan trọng ăn với uống, còn thở ra sao thì không biết. Rõ ràng việc tối quan trọng lại lơ là, còn việc không quan trọng thì dồn hết tâm lực vào đó. Như vậy mới thấy cái lầm lẫn của chúng ta thật đáng thương.

Bước qua phần thứ hai, thân và tâm tức thể xác và tinh thần, cái nào quan trọng hơn? Chúng ta thường lo cho thể xác hay tinh thần? Thể xác lo cho sạch đẹp sung mãn, còn tinh thần thì không nghĩ tới. Nhìn chung con người chỉ nặng về thể xác mà xem nhẹ phần tinh thần, trong khi tinh thần điều khiển thể xác. Ví dụ từ trong nhà đi ra đường, ta khởi nghĩ trước rồi mới đi. Làm việc gì cũng vậy, khởi nghĩ trước rồi mới làm. Rõ ràng tinh thần chỉ huy mà chúng ta lại không quan tâm, chỉ quan tâm thể xác.

Nhưng thử hỏi chúng ta lo cho thể xác được sung mãn, mà nó còn mãi không? Lo cho mấy nó cũng bại hoại. Lo nào nhà cửa, tiền bạc, cơm ăn áo mặc… nhưng khi nhắm mắt tất cả những thứ đó còn hay mất? Lo để ngày mai sẽ mất thì lo làm gì? Vậy mà chúng ta cứ lo, lo ngày lo đêm, lo hết sức là lo. Cái giữ không được mà dồn hết cho nó, còn cái chủ thúc đẩy chỉ huy lại không để ý, mặc tình nó ra sao thì ra. Như vậy chúng ta sáng suốt không? Đó là vấn đề chúng ta cần phải xét lại để khỏi lầm lẫn.

Nếu nói tâm hồn hay tinh thần là cái chỉ huy, sắp đặt cho cuộc sống, thì chúng ta phải lo cho nó tốt đẹp, cao quí mới phải, còn thân tạm bợ này lo xoàng xoàng cũng được. Thế mà ta làm ngược lại. Đó là điều rất sai lầm của đa số người thế gian…”

(trích từ bài giảng “Thế Gian Chú Tâm Vào Việc Nhỏ, Bỏ Việc Lớn” – HT. Thích Thanh Từ giảng tại TV. Trúc Lâm – Đà Lạt tháng 12-2000)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

************

Lời dạy 60: Tu là như thế nào

“Bây giờ nói tu là tu thế nào? Nhiều người bảo ăn chay, lạy Phật nhiều là tu. Ăn chay, lạy Phật cũng thuộc về phần thể xác, còn bộ chỉ huy thì không lo. Vì vậy tu cũng có nhiều cách. Tu bằng hình thức tạo phước tạo duyên, hoặc tu bằng cách lọc bỏ các vọng tưởng cho tâm được trong sáng thanh tịnh. Trong hai cách tu trên, cách tu sau mới là quan trọng. Bởi vì tâm là vị chỉ huy, nếu chỉ huy tốt thì thân miệng làm các việc tốt, cuộc sống theo đó quí đẹp. Còn tu về phần vật chất thì có phước, nhưng tâm còn phiền não thì không giải quyết được cội gốc vô minh sanh tử. Đó là điều quan trọng người tu chúng ta cần phải biết…”

(trích từ bài giảng “Thế Gian Chú Tâm Vào Việc Nhỏ, Bỏ Việc Lớn” – HT. Thích Thanh Từ giảng tại TV. Trúc Lâm – Đà Lạt tháng 12-2000)

————

Nguồn: Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng

————

Lời dạy 61: Cái vui chân thật

“Quí vị thấy tu là vui hay khổ? Nếu thấy tu là vui thì quí vị hãy nỗ lực cố gắng tu, để trở về cái chân thật hằng hữu, được niềm vui bất tuyệt. Ở thế gian này có ai giàu có thọ hưởng ngũ dục một cách đầy đủ mà khỏi đau bệnh, già yếu, chết chóc không? Từ ngàn xưa đến nay không ai tránh khỏi. Hưởng cái vui giàu sang sung sướng chỉ được mấy mươi năm, con người tưởng là lâu dài, cứ mải mê đuổi bắt nó. Khi nào thoát ra khỏi cái khổ sanh tử chúng ta mới được niềm vui chân thật lâu dài. Nếu còn ở trong sanh tử, dù nhiều tiền lắm của đến đâu cũng tiêu hoại. Chỉ có người biết trở về cái chân thật, tâm hết vô minh phiền não mới thoát khỏi mọi khổ đau, được niềm vui chân thật bất diệt.”

(theo “KHỔ VUI QUA MẮT KẺ MÊ NGƯỜI TỈNH” – HT. Thiền sư Thích Thanh Từ)

————

Nguồn: Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác

***********

Lời dạy 62: Hãy tinh tấn lên

Trong kinh Pháp Hoa có nêu ví dụ: Gã cùng tử con ông trưởng giả giàu có, vì khờ dại bỏ nhà bỏ cha đi lang thang phiêu bạt khắp nơi, thân đói rách nghèo nàn, xin ăn hoặc làm thuê làm mướn sống qua ngày. Một hôm anh nhớ cha mẹ, quê hương, anh trở về quê cũ gặp lại cha. Ông trưởng giả nhận anh là con đẻ, ông trao cả gia sản sự nghiệp cho anh. Anh được niềm vui lớn không thể diễn tả, nên nói là niềm vui của kẻ cùng tử gặp cha.

Dụ như thế quí vị có hiểu gì không? Từ xưa đến nay, mỗi người chúng ta ai cũng có sẵn ông Phật nơi mình mà quên đi, cứ chạy theo vọng tưởng rồi tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, từ đời này đến kiếp nọ khổ đau không cùng tận. Giờ đây biết vọng tưởng là vô thường không thật, nó dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử khổ đau, quyết định phải trở lại sống với ông Phật của mình, thì được niềm vui bất diệt. Nên nói gã cùng tử dừng bước lãng du, trở về gặp cha giàu có sung sướng. Đó là niềm vui của gã cùng tử gặp cha.

Quí vị thấy tu là vui hay khổ? Nếu thấy tu là vui thì quí vị hãy nỗ lực cố gắng tu, để trở về cái chân thật hằng hữu, được niềm vui bất tuyệt. Ở thế gian này có ai giàu có thọ hưởng ngũ dục một cách đầy đủ mà khỏi đau bệnh, già yếu, chết chóc không? Từ ngàn xưa đến nay không ai tránh khỏi. Hưởng cái vui giàu sang sung sướng chỉ được mấy mươi năm, con người tưởng là lâu dài, cứ mải mê đuổi bắt nó. Khi nào thoát ra khỏi cái khổ sanh tử chúng ta mới được niềm vui chân thật lâu dài. Nếu còn ở trong sanh tử, dù nhiều tiền lắm của đến đâu cũng tiêu hoại. Chỉ có người biết trở về cái chân thật, tâm hết vô minh phiền não mới thoát khỏi mọi khổ đau, được niềm vui chân thật bất diệt.

Qua những điều vừa nêu, chúng ta thấy người đời không sáng suốt lấy nỗi khổ của người làm niềm vui của mình, vui trên sự đau khổ của vạn vật. Còn người tu hành chân chánh hằng sáng suốt, không bao giờ chấp nhận vui trên sự đau khổ của người vật. Ngược lại lấy niềm vui của người làm niềm vui của mình, đem sự an vui đến cho người vật. Tất cả chúng ta phát tâm tu là nguyện sống đời an vui bất tận, chẳng những trong đời này mà vĩnh viễn về sau. Muốn được như thế chúng ta phải làm sao? Nên nỗ lực tu hành hay lười biếng giải đãi?

Người tu hành thoạt nhìn thấy như thiệt thòi khổ sở vì không thọ hưởng những vui sướng của thế gian, phải khép mình trong giới điều nghiêm ngặt để tinh tấn tu hành. Nhưng sau đó mới thấy an vui vì ít phiền não, không điên đảo rộn ràng như người đời. Người đã phát tâm tu theo đạo Phật suốt đời phải tinh tấn tu hành, chớ không thể tu một thời gian rồi ngừng nghỉ, không tu nữa. Nhất là người già phải nỗ lực tu nhiều hơn, vì cái khổ tử vong gần kề. Nếu không lo tu hành khi chết đến làm sao trở tay kịp? Thế nên người phát tâm tu chẳng những khi còn trẻ lo tu hành mà lúc già lại phải tu nhiều hơn, như thế mới có được nguồn an vui chân thật, dứt mọi khổ đau.

Tóm lại, đạo Phật là đạo diệt khổ, đem vui đến cho chúng sanh. Chính đạo Phật là chỗ nương tựa an vui chân thật, đem đến an bình muôn đời cho tất cả mọi loài.

————

Nguồn: Đạo Phật

************

Lời dạy 63: Làm chủ tham sân si

LỜI GIÁO HUẤN CỦA HÒA THƯỢNG TÔN SƯ

Nhân ngày truyền thống 08/12/Giáp Ngọ – 2015

Cùng tất cả Tăng Ni,

Hôm nay ngày truyền thống của thiền phái Trúc Lâm, chư Tăng Ni về đây đảnh lễ chúc mừng tôi, tôi rất là hoan hỷ và cũng có đôi lời nhắc nhở đến toàn thể:

Thuở xưa đức Phật Thích-ca do tu thiền mà ngộ đạo, chư Tổ Ấn Độ, Trung Hoa đến Việt Nam cũng do tu thiền mà thành Tổ. Chúng ta ngày nay tự nhận là đệ tử Phật, là môn đồ chư Tổ, không lý do gì từ khước chẳng chịu tu thiền. Như thế khôi phục thiền tông là một nhiệm vụ chung của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam.

Hoài bão của tôi là khôi phục thiền tông Việt Nam. Người Việt Nam lập thành một hệ phái thiền chỉ có ở đời Trần, còn những đời trước và sau đều theo các hệ phái thiền của Trung Hoa. Là kẻ hậu học, chúng ta tự hãnh diện ở Việt Nam xuất hiện một hệ phái thiền Việt Nam trọn vẹn, mang dấu ấn của chư Tổ Việt Nam và dung hội một cách tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam. Giờ đây các thiền viện thuộc hệ phái Trúc Lâm đã ra đời, thu nhận Tăng Ni tu theo pháp môn thiền tông của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tôi thấy thật vui bởi vì sở nguyện của tôi có thể thực hiện được rồi.

Muốn cho giáo pháp thiền tông Trúc Lâm Yên Tử được khôi phục và phát huy sáng tỏ, bền bĩ, để mọi người hướng theo thì không gì hơn là phải tạo điều kiện cho Tăng Ni tu được sáng đạo. Có sáng đạo thì chánh pháp mới trường tồn. Sở nguyện của tôi muốn duy trì thiền tông Việt Nam lâu dài, nên tôi đã cố gắng tạo thiện duyên cho tăng ni tu học. Vì vậy, tăng ni phải ráng tu cho sáng đạo để khi tôi nhắm mắt, tôi vui vì đã được toại nguyện. Nếu quý vị tu lừng chừng qua ngày thì thật là đời tu của tôi chưa đủ phúc để vui hưởng lúc ra đi. Đó là hoài bão của tôi.

Trúc Lâm Đại Đầu-đà là Sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, là một vị thiền sư rất đáng cho tăng ni tứ chúng tôn sùng, hãnh diện. Ngài là một bậc vương giả đã bỏ tất cả công danh phú quí vào tu chốn rừng sâu. Ngài tu trên núi không còn bận bịu việc đời. Một lần đi là một lần dứt khoát, không có thái độ lưng chừng.

Ngài đã nói tất cả chuyện hay chuyện dở của đời không màng tới, tất cả những thị phi Ngài cũng phủi sạch, chỉ dồn hết tâm lực trong công phu tu hành. Do vậy mà chỉ trong thời gian ngắn Ngài đạt đạo. Điều này đáng cho chúng ta trân quý noi theo. Người tu phải có thái độ dứt khoát như thế mới tu hành thành đạo. Được đạo rồi Ngài tùy duyên làm lợi ích chúng sanh, giáo hóa khắp nơi trong nước, khuyến hóa chúng dân tu hành Thập thiện, đồng thời hướng dẫn chư Tăng ni tu hạnh xuất gia, hàng cư sĩ tại gia thì ngài khuyên tu hạnh Bồ-tát. Đó là chỗ cao quí của Sơ Tổ Trúc Lâm.

Chúng ta là con cháu của ngài, tu theo thiền phái Trúc Lâm cho nên phải đi theo con đường Tổ đã đi, hành trì theo pháp Tổ đã hành. “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” là cương lĩnh của thiền phái Trúc Lâm. Chư Tăng Ni tu theo sự hướng dẫn của tôi phải ghi nhớ và thực hành cho được điều này. Mỗi vị tự xoay lại quán chiếu, nhận ra của báu nhà mình, không còn làm gã cùng tử lang thang nữa.

Tu thiền là lúc nào cũng thiền, trong bốn oai nghi tâm chuyên nhất, không thêm một việc khác. Như vậy để làm gì? Để nhận ra cái chân thật hiện tiền luôn hiện hữu trước mắt. Cái biết ấy đã sẵn có đầy đủ, không cần suy nghĩ, suy nghĩ là lăng xăng dấy động. Tăng Ni chỉ nhớ làm một việc này, ngoài ra không có việc khác.

Vô thường nhanh chóng, quý vị không nên vui đùa năm tháng, già chết chẳng hẹn cùng người. Chỉ nên siêng năng tu hành, chớ lười trễ. Ấy mới thật vì nhau. Đây là lời nhắc nhở của tôi.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 64: Di Lặc Bồ-Tát Là Hiện Thân Của Đức Tánh Hỷ Xả

Do vui vẻ mà xả , cũng do xả nên được vui . Chúng ta hãy cố gắng tập đức hỷ xả của Ngài buông bỏ hận thù, buông bỏ mọi cố chấp, buông bỏ lòng tham trước…

Tất cả đều buông bỏ thì lòng chúng ta ta nhẹ nhàng như quả bóng đứt dây, thênh thang như hư không bao hàm vạn tượng, vui vẻ hồn nhiên như đứa trẻ thơ nhìn vào ống kính vạn hoa . Có hạnh hỷ xả là có giải thoát, có an vui.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 65: Nụ cười bất diệt

Trong thời gian yên tu, một hôm bỗng dưng chúng tôi cảm thông được nụ cười nhẹ nhàng hiện trên môi tượng đúc Phật và nụ cười của các Thiền Sư khi giã từ cuộc đời. Tại sao bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật tại Lộc Uyển đề cập trước nhất là khổ đế, cho đến nhiều bài thuyết pháp sau này, đức Phật cũng thường nhắc đến nỗi khổ của chúng sinh bằng những câu "nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển cả", mà trên gương mặt Ngài luôn nở nụ cười.

Vô minh là cội nguồn của muôn kiếp khổ đau – Con người có mặt trên cõi đời này do vô minh chủ động, nên khi ra đời đã mang sẵn chất keo đau khổ. Vô minh là gì mà đày đoạ con người lắm thế.? Vô minh là nhận hiểu sai lầm về con người và muôn vật. Về con người, thân này là cái không thể giữ mà cố giữ, cái sắp bại hoại mà muốn không bại hoại, cái tạm bợ mà tưởng lâu dài, cái nhơ nhớp mà tưởng đẹp đẽ; các cảm giác là hư ảo mà tưởng chân thật, cảm giác là vô thường mà tưởng lâu dài, cảm giác là là đau khổ mà tưởng hạnh phúc; nội tâm vọng tưởng là ảo ảnh mà chấp là tâm mình, chân tâm bất biến thì lơ là không biết đến. Và muôn vật, những sắc hình hào nhoáng, những âm thinh sanh diệt, những hương vị tạm bợ mà mê say đắm đuối, khao khát thèm thuồng đuổi bắt suốt đời không biết mệt mỏi. Từ những nhận hiểu sai lầm này, con người không bao giờ toại nguyện, không bao giờ được như ý, không bao giờ thấy hạnh phúc; mà luôn luôn thấy bất mãn, bất như ý, bất hạnh…là nguồn gốc khổ đau. Cái nhận biết sai lầm này gắn chặt vào chúng ta từ đòi này sang kiếp nọ, mãi mãi không rời, cho nên khổ đau do nó gây ra không biết lấy đâu làm ngằn mé, chỉ còn cách diễn tả "nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả".

Mặc dù vô minh hiểm nguy như thế, song một phen giác ngộ chúng đều tiêu tan. Như ngôi nhà tối ngàn năm chỉ còn thắp ngọn đèn sáng lên thì bóng tối tan mất. Cái mê lầm u tối tạo thành muôn ngàn sợi dây nghiệp khổ; trói buộc lôi kéo con người lăn lộn trong vạn nẻo luân hồi, tưởng chừng như không có cách gì thoát khỏi, đâu ngờ ngọn đèn giác ngộ vừa bừng sáng lên, chúng liền lui mất không còn tung tích. Thấy được việc này, đức Phật không nở nụ cười an lành sao được .

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 66: Lọc vàng

Đừng mang tâm trạng tìm lỗi người khác, mà phải luôn nhìn lại lỗi mình. Tu cốt yếu là dẹp lỗi lầm của mình, phá sạch tâm phiền não, buông xả lòng yêu ghét, có như vậy mới thảnh thơi hết khổ. Cố gắng buông xả hết, thì mới có thể tiến tới chỗ an vui. Khi mình được an vui thì người cũng được an vui lây, nếu mình cố chấp, phần mình đã khổ lại còn làm khổ lây người khác.

Nóng giận làm thương tổn chính mình, chớ không phải thương tổn người khác. Tại sao? Bởi vì khi nóng giận, ta có những lời nói không hiền lành, tay chân không đàng hoàng, mặt mũi trừng trợn rất dễ sợ. Nóng giận làm cho mình mất đẹp mà lại còn khiến cho người ghét nữa. Như vậy thương tổn nhiều ít? Cái làm cho mình thương tổn quá nhiều, tai hại quá lớn như vậy tại sao ta không bỏ?

Phật tử ai cũng biết tham lam, nóng giận, si mê là tật xấu thì phải chừa bỏ. Còn trí tuệ từ bi quí báu thì nên trân trọng giữ gìn. Tham sân si dụ như cát sỏi, từ bi trí tuệ dụ như vàng. Chúng ta tu phải lọc đãi cát sỏi bỏ, lấy vàng kết tụ lại thành khối, như vậy mới thành công. Chúng ta ai cũng có sẵn tâm từ bi, có sẵn trí tuệ, chỉ cần làm sao phát huy được những của quí ấy thì thành tựu Phật đạo.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 67: Phước huệ song tu

Có một số Phật tử mắc cái bịnh là làm từ thiện xã hội ,bố thí cúng dường ,cứ ham làm hoài .Tâm cứ tính toán, lo toan không có thì giờ để ngồi thiền ,tụng kinh .Thậm chí không nghĩ đến nữa ,vì thấy làm được việc lợi ích cho nhiều người nên say sưa làm.

Tổ Bá Trượng có dạy :" Nếu phước nhiều tuệ kém thì các phước đó chở cái Tuệ đi hưởng cảnh sang giàu, không tiến được trên đường giác ngộ "

Lại cũng có người tu Tuệ rồi chấp vào đó chê tu Phước là pháp Hữu Vi không giải thoát nên dùng hết tâm lực vào việc tu tuệ không làm gì lợi ích cho ai cả. Nhờ vậy mà tuệ được tăng trưởng Phước thì thiếu .

Cho nên Phước và Tuệ phải song hành thì đường tu mới được hanh thông .

Nếu bố thí cúng dường mà nguyện cho sau này đủ duyên để tiến tu trên đường giác ngộ viên mãn đạo quả Bồ -đề , tu phước với tâm nguyện như thế thì không trở ngại trên đường tu.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 68: Tự tha và giác tha

Chủ yếu của đạo Phật là tu từ tự tâm của cá nhân thanh tịnh rồi lan ra ngoài. Có nhiều người hiểu lầm nên trước lo cho tất cả mọi người đều tốt. Nhưng mình chưa thật tốt mà muốn cho mọi người chung quanh tốt thì không được. Muốn cho mọi người tốt thì trước hết chúng ta phải tốt. Rồi gia đình, làng xóm chúng ta tốt, cho đến tất cả thế giới đều tốt. Muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, trước hết phải xây dựng cá nhân.

Nếu có gì phiền hà làm cho mình khó chịu, vừa muốn giận liền tự nhắc "không được giận, giận là xấu, bỏ". Nên nghĩ người làm sai là người đáng thương, chứ không đáng giận. Như vậy chuyễn từ ghét giận trở thành thương mến, tâm hung dữ trở thành tâm từ bi, từ nghiệp xấu chuyển thành nghiệp tốt. Nếu trong xã hội, trong gia đình, ai cũng biết chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt hết thì gia đình đó thế nào?

Đền ơn Phật Tổ không gì hơn cứu độ chúng sanh. Sự cứu độ thực tế nhất, phải ngay cõi đời này, với những người có mặt hiện nay, khiến họ chuyển mọi khổ đau trở thành an lạc. Phật giáo không phải là cái gì xa vời, không phải sự ước mơ viển vông, mà hiện tại thực tế. Nhận định như thế, mới có thể đem đạo Phật vào cuộc đời một cách hữu hiệu và đem ngọn đèn chánh pháp nối tiếp mãi không tắt trên cõi thế gian này.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 69: Dừng nghiệp, chuyển nghiệp, và sạch nghiệp

Đạo Phật chỉ dạy cho chúng ta phải làm chủ được mình. Làm chủ được mình mới có tự do; chưa làm chủ được mình thì không có tự do. Tại sao? Bởi vì nếu không làm chủ được mình thì mắt đối với sắc nhiễm sắc, tai đối với thanh nhiễm thanh, mũi đối với hương nhiễm hương, lưỡi đối với vị nhiễm vị, thân đối với xúc nhiễm xúc, chỗ nào cũng mắc kẹt. Đòi tự do mà mắt tai mũi lưỡi thân đều bị dính nhiễm, bị trói buộc hết.

Một cái vui trong đạo Phật là vui "tùy hỷ," hỷ là mừng, tùy là theo. Khi chúng ta thấy ai làm một đều lành, một việc phải thì chúng ta phát tâm vui theo. Ngoài xã hội ai được cái gì hay cái gì tốt, cái gì sung sướng, chúng ta vui mừng như chính chúng ta được. Tâm niệm của người Phật tử phải là tâm niệm làm mọi người hết khổ. Thấy một người bớt khổ về sự ăn, sự mặc, hoặc bớt khổ về cái gì chúng ta nên mừng cho họ.

Biết giữ năm giới sẽ đem lại cho mình một đời sống an lành, một gia đình hạnh phúc, một xã hội văn minh. 1. Không sát sanh thân – tráng kiện sống lâu; 2. Không trộm cướp – được tài sản sung túc; 3. Không tà dâm – thân thể đẹp đẽ; 4. Không nói dối – ăn nói khôn ngoan mọi người yêu chuộng; 5. Không uống rượu – trí tuệ sáng suốt. Vì thương mình thương người, Phật tử chúng ta phải cố gắng gìn giữ và khuyên người gìn giữ.

Giải thoát là do nghiệp sạch, tâm thanh tịnh, thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Mỗi khi Phật tử quy y đều được phát lá phái, trong đó có bài kệ: "Chớ làm các đều ác. Vâng làm các việc lành. Giữ tâm ý trong sạch. Là lời chư Phật dạy." Chớ làm các đều ác là dừng nghiệp. Vâng làm các việc lành là chuyển nghiệp. Giữ tâm ý trong sạch là sạch nghiệp. Mong các Phật tử nhớ bài kệ này để việc tu có kết quả tốt đẹp.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 70: Tu ngay chính nơi bản thân mình

Đạo Phật có mặt ở thế giới này đã trên hai mươi lăm thế kỷ. Sở dĩ được như thế, do Phật giáo là chân lý không lý thuyết nào bẻ gãy nổi, người tu hành theo Phật giáo được kết quả lợi ích thiết thực không nghi ngờ, phương pháp truyền bá của Phật giáo rất linh động. Chúng ta hữu duyên hữu phước mới được gội nhuần chánh pháp, đừng cô phụ phước duyên của mình, mỗi chúng ta phải nỗ lực tiến tu. Làm thế nào cho ngọn đèn chánh pháp nối tiếp mãi không tắt trên cõi thế gian này.

Đạo Phật là đạo từ bi. Chúng sanh khổ thì ta khổ, chúng sanh vui thì ta vui. Chúng ta phải thấy rõ người làm ác là người đáng thương, vì họ sẽ khổ ở ngày mai. Người làm lành mình vui mừng với họ, vì mai kia họ sẽ bớt khổ, sẽ sung sướng hơn. Đối với người ác thì ta thương, đối với người hiền thì ta mừng, bên nào cũng tốt cả. Còn những thứ vui trong nỗi khổ của kẻ khác, tuyệt đối chúng ta không làm.

Chúng ta sở dĩ khổ đau là vì chúng ta ái ngã, thương thân này quá. Thương thân này thì thân này bị già, bị bệnh, bị chết là chúng ta phải khổ. Từ ái ngã, cho thân mình là quý nên ai xúc phạm tới nó thì nổi sân. Thân mình, mình thương, mình quý nó nên ai khinh, ai chê mình tức giận. Từ ái ngã là tham, rồi tới sân, rồi đủ thứ si mê theo đó. Chúng ta quan sát được như vậy, thấy tường tận như vậy, đó là có trí tuệ.

Trong kinh Phật dạy, muốn trị bệnh sân phải dùng thuốc nhẫn nhục. Nhẫn nhục trị sân nhuế. Trong ba nghiệp, ý dấy khởi trước rồi tới miệng, tới tay chân. Nhưng ta lỡ nổi nóng, la hoặc đánh chửi người ta một hồi rồi làm sao nhẫn, sám hối muộn quá. Cho nên phải nhẫn trước khi tạo các hành động xấu. Nhẫn tức là nhịn, muốn nhịn phải có phương pháp, có kinh nghiệm trong sự tu. Tu không phải là chuyện ở bên ngoài mà ngay nơi bản thân mình, nội tâm mình, từng phút từng giây chúng ta phải loại bỏ những điều xấu, nuôi dưỡng những điều tốt.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 71: Bát Nhã Tâm Kinh

Quý vị tụng bất cứ kinh gì, cũng kết thúc bằng Bát Nhã Tâm Kinh. Bát Nhã là trí tụê. Phương pháp tu nào cũng phải nhờ Bát Nhã. Người nào có trí tụê sáng suốt thì phá trừ được vô minh. Ví như thắp đèn sáng lên thì bóng tối tự tiêu tan. Bát Nhã chủ trương ngũ uẩn giai không, biết tất cả là không, thì thoát tất cả mọi khổ ách. Mọi vật đều tự thể là không, do nhân duyên hòa hợp mà thành, đó chỉ là huyễn có, là giả hợp. Nếu biết tất cả là giả, thì còn tham đắm say mê, thương ghét, giận hờn làm gì ? Tất cả đã là không thì không có người, không có ta, không có vô minh, tội chướng, mà cũng không có nghiệp quả khổ đau. Nhưng tâm trạng này chỉ đến với những người đã chứng đến pháp "nhất thiết không", trí người đó đã sáng, tâm người đó đã bình chứ còn chúng sanh thì vẫn thấy có luân hồi, có giải thoát, có sanh tử, có niết bàn, có tội, có báo, có nhân, có quả.

Người có trí tụê thì hiểu tiếng khen lời chê, sắc đẹp, dáng xấu, miếng ngọt vị cay….đều là nhân duyên hợp lại mà thành, là huyễn hóa, là giả, thì không còn ưa ghét, nhờ vậy mà dứt được ái, hết tham và sân. Giác ngộ thân tâm cảnh là giả, dùng trí tụê chiếu soi tất cả thì mới là giải thoát, dứt được vô minh, trừ được si.

Chúng ta sống ở đời quen coi ta, người và cảnh đều có thật. Nay nhờ trí Bát Nhã chiếu soi, chúng ta hiểu tất cả là giả có, in tuồng là có mà thôi. Ngay trong lúc thấy có phải biết nó là không, tất cả các pháp tự tánh là không, đương thể tức không. Cái bàn trước mắt đây bây giờ thấy có, nhưng nó hoại dần dần, rồi sẽ biến thành không. Chỗ này rất dễ hiểu, trước có sau không, theo luật vô thường. Đó là theo kinh A Hàm. Nhưng nói theo kinh Bát Nhã thì cái bàn tự tánh là không, do nhân duyên hòa hợp, đương thể là không. Cái bàn còn y nguyên chưa hoại mà đã biết nó là không, đó mới thật là chân không. Mà cũng chính cái không này phát sanh ra cái có, đó là "sắc tức thị không, không tức thị sắc".

Đừng thấy tất cả là giả, là không rồi chẳng chịu làm gì, ngồi im một chỗ, hoặc lên núi lên non ẩn mình. Thật ra, thấy ngũ uẩn giai không rồi là đã tỉnh giác, nhưng chỉ giác được một chút rồi lại mê. Phải làm sao cái giác thật lâu, mãi mãi tự giác rồi còn giác tha. Các bậc Bồ Tát sau khi chứng được chữ không đều phát tâm đại bi, lăn vào trong đời ác ô trược để cứu chúng sanh. Đứng về thể tánh thì không chấp một pháp nào, nhưng đứng về thực hành thì không một việc thiện nào mà không làm.

Chúng ta đã học hiểu rồi phải thực hành, tự thắp đuốc lên mà đi, ngọn đuốc tâm ta sáng thì được giác ngộ và giải thoát. Vì vậy theo tinh thần Bát Nhã thì phải phát huy trí tụê, phải giác ngộ biết vạn vật do nhân duyên hòa hợp, nguyên thể là không. Việc tu hành không có gì lạ, điểm trọng yếu làm sao có trí tụê sáng suốt để được giác ngộ, mà hễ được giác ngộ là được giải thoát.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 72: Từ bi và trí huệ

Đạo Phật xem trọng trí tuệ, vì nó là ngọn đèn soi sáng khiến người tu thấy được chân lý của cuộc đời, cũng nhờ ngọn đuốc trí tuệ soi đường người tu thoát khỏi cái khổ đêm dài u tối vô minh.

Cũng nhờ đèn đuốc trí tuệ người tu mới hướng dẫn được những kẻ lầm đường lạc lối tránh khỏi sa hố sụp hầm. Nếu không có trí tuệ, chẳng biết người tu sẽ làm gì để cứu độ chúng sanh. Nhân loại hiện nay cũng biết quí trọng chất xám, vì chất xám ném vào nông nghiệp thì đất đai mầu mỡ thu hoạch vượt trội; chất xám ném vào công nghiệp thì kỹ thuật tiên tiến, thành phẩm xuất sắc; chất xám ném vào chánh trị thì quốc gia hưng thạnh, xã hội văn minh… Chất xám giải quyết được sự thiếu thốn nghèo nàn của những quốc gia chậm tiến. Nhờ biết sử dụng chất xám, các quốc gia lạc hậu chậm tiến được vươn lên.

Đạo Phật xem trọng trí tuệ ngang hàng với từ bi. Trí tuệ và từ bi phải đi song đôi, phải cân bằng không được chênh lệch. Có trí tuệ mà thiếu từ bi là trí tuệ khô (càn tuệ), có từ bi mà không trí tuệ là từ bi mù quáng (si từ). Từ bi và trí tuệ như chim hai cánh, chỉ có một cánh là không thể bay được. Song trên thế giới ngày nay người ta đầu tư quá nhiều cho chất xám, ít ai chịu đầu tư cho con tim. Có chất xám mà thiếu con tim thì chất xám sẽ bị bại hoại. Sự mất thăng bằng này là một tai họa không thể lường của nhân loại về sau.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 73: Đừng mong cầu bên ngoài

Ðừng bao giờ mơ ước những gì cao siêu, quá sức. Chúng ta cứ mỗi ngày nhìn kỹ, thấy rõ những niệm khởi của mình, rồi dẹp sạch thì sẽ được thanh tịnh. Mà thanh tịnh tức trở về với thể không sanh diệt chớ chẳng có gì lạ. Nếu cứ trông cậy, mơ ước những điều ở đâu bên ngoài, rốt cuộc chúng ta trở thành kẻ nô lệ, tay sai của quỉ thần.

Vậy mong toàn chúng biết quay nhìn lại mình để tu hành đạt kết quả tốt.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 74: Ba điều căn bản của người tu Phật

Hôm nay chúng tôi xin nói đề tài Ba điều căn bản của người tu Phật. Vì chúng ta tu Phật phải biết thế nào là cội gốc, thế nào là ngọn ngành. Ba điều này tôi căn cứ theo kinh Pháp Hoa, nhắc lại cho quí vị nhớ và thực hành.

Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy: “Người tu Phật phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai.” Chúng ta tu theo Phật thì phải vào nhà Phật, mặc y Phật và ngồi tòa của Phật. Như vậy mới trung thành với đức Phật, mới có thể thành công được sở nguyện tu hành của mình.

Vào nhà Như Lai là gì? Đức Phật dạy vào nhà Như Lai là thực hành lòng từ bi. Chúng ta muốn vào nhà Phật phải mở rộng lòng thương đối với tất cả mọi người. Nếu người tu hành mà không có tâm từ bi thì không phải là đệ tử của Phật. Cho nên tâm từ bi là bước đầu để đem lợi ích cho chúng sanh. Đó là tâm nguyện của người Phật tử tu theo Phật. Thế thì thương chúng sanh bằng cách nào và thương những ai? Tôi sẽ lần lượt dẫn cho quí vị thấy.

Thứ nhất, chúng ta thương mến những người thân cùng sống chung quanh với mình. Giới xuất gia thì những người cùng tu trong một viện, một chùa, huynh đệ phải thương nhau, bảo bọc nhau. Vì sao? Vì tất cả chúng ta cùng một lý tưởng tu hành cầu giải thoát, cầu giác ngộ. Đã đồng một lý tưởng, vô lý chúng ta lại không thương nhau? Thương nhau để mà đùm bọc, thương nhau để mà tha thứ cho nhau, đừng làm phiền lụy, đừng làm khổ đau cho những người chung sống với mình.
Giới cư sĩ tại gia, quí Phật tử phải thương những người trong gia đình, những người thân tộc của mình, những ai chung quanh có công, có nghĩa với mình, chúng ta đều thương, đều mến, đừng bỏ sót người nào, xử sự với tất cả trong tình thương yêu kính trọng.

Thứ hai, nếu là giới xuất gia, các vị phải thương mến các vị thí chủ đã bỏ công, bỏ của giúp đỡ chúng ta có phương tiện tu hành. Chúng ta phải nỗ lực tu sao cho đủ phước, đủ đức để độ những vị đó, không thể thọ nhận của thí chủ rồi ăn chơi vui vẻ qua ngày. Như thế là phụ ân của đàn-na thí chủ.Trong kinh Phật thường dạy: Phật tử cúng dường Tam Bảo giống như người nông phu làm ruộng vậy. Trước hết chúng ta phải lựa những thửa ruộng phì nhiêu đất tốt để gieo giống. Cũng vậy, Phật tử cúng dường Tăng Ni cũng phải nghĩ chỗ nào tu hành chân chánh, những vị tiến lên theo con đường Phật chỉ dạy… đó là những vị gánh vác Phật sự đáng quí, đáng kính. Gieo giống những thửa ruộng tốt hết rồi mới tiếp theo những thửa ruộng vừa phải, không tốt lắm và cuối cùng là những thửa ruộng khô cằn.Như vậy người tu là người tạo phước đức cho chúng sanh, nhận của đàn-na thí chủ có nghĩa là chúng ta nhận phần giúp đỡ bằng vật chất để rồi chúng ta tu, chúng ta sẽ giúp đỡ lại, cứu độ lại phần tinh thần cho Phật tử. Nên chúng ta thương những vị thí chủ. Nếu là Phật tử tại gia thì phải thương mến những người có công giúp đỡ cho mình sống, có công đem lại sự tốt đẹp, an lành cho mình. Luôn nhớ ơn và đền ơn cho xứng đáng.

Thứ ba, thương tất cả những người còn mê lầm. Chúng ta được phước duyên lớn nên mới xuất gia, bởi vì xuất gia là đã thức tỉnh, nếu không tỉnh thì mình cứ đi trên đường đời chớ không trở gót vào chùa đi trên đường giải thoát. Còn người đời vì bận bịu thế gian, chuyện gia đình thân quyến nên cứ say mê làm ăn cho có tiền của, không nghĩ tới đạo lý thức tỉnh, nên chúng ta thương xót những người si mê ấy, làm sao đánh thức để họ tỉnh, như vậy mới tròn bổn phận một người tu. Đức Phật thường dạy người tu phải có đủ tự giác và giác tha. Nếu chỉ tự giác đó là xong phần mình nhưng còn phải giác tha nữa, làm sao cho những người chung quanh mình cùng giác ngộ. Như thế mới tròn bổn phận của một tu sĩ tu Phật. Với người cư sĩ, quí Phật tử cũng phải có trách nhiệm vì mình đã biết đạo, đã nếm được mùi vị thâm trầm của Phật pháp, chúng ta cũng phải đem chia xẻ cho huynh đệ mình cùng hưởng, cùng nếm. Đó là tinh thần tự giác, giác tha. Tinh thần thương yêu này không riêng gì người xuất gia mà kể cả người tại gia cũng mở lòng từ bi thương những người mê lầm hơn chúng ta và cố gắng đánh thức họ cùng tỉnh, cùng tiến tu, cùng hết khổ như mình.

Thứ tư, từ bi là thương tất cả chúng sanh từ loài người cho đến loài vật. Vì vậy mùa Vu Lan Phật tử thường mua chim thả để thể hiện lòng từ bi của mình, nhưng việc làm này nếu không khéo sẽ trở thành ích kỷ. Vì quí vị nhốt chim trong lồng chờ quí thầy tụng kinh cầu nguyện cho mình được an vui hạnh phúc rồi mới thả, trong khi mấy chú chim muốn chết ngộp hết cả. Đó là trái với lòng từ bi, vô tình chúng ta trở thành ích kỷ là vậy. Khi đã tu hoặc xuất gia, hoặc tại gia chúng ta đều mở lòng thương vì người, vì chúng sanh. Đó mới thật là lòng từ bi. Còn tình thương ích kỷ gọi là lòng thương vị ngã.

Đến phần mặc áo Như Lai. Áo Như Lai là gì? Phật dạy áo Như Lai là lòng nhu hòa nhẫn nhục. Chữ nhẫn nhục này có nhiều người hiểu theo nghĩa tiêu cực, cho rằng nhẫn là nhục. Vì nhẫn nên chịu thua, vì thua nên nhục. Nghĩ như vậy là sai lầm.

Chữ nhẫn trong đạo Phật nghĩa là có sức chịu đựng, có sức an nhẫn. An nhẫn những điều trái tai, gai mắt, chúng ta không tức giận, không bực bội. An nhẫn được những sự đòi hỏi, những nhu cầu thèm khát của thân, chúng ta đều an nhẫn được. An nhẫn được hoàn cảnh khó khăn, thời tiết nóng lạnh bất thường. Nên chữ nhẫn nhục trong nhà Phật nói lên một sức chịu đựng mạnh mẽ phi thường. Như có người chọc giận mình, làm trái ý mình thì chúng ta mạnh mẽ làm chủ, đừng để cơn sân dấy lên, hiện ra ở miệng, ở tay. Do đó phải có sức chịu đựng cứng cỏi, gan dạ, không thể yếu đuối được.

Kinh Pháp Cú có câu: “Thắng một vạn quân không bằng thắng mình. Thắng mình mới là chiến công oanh liệt.” Cơn tức giận dấy lên mà chúng ta thắng được tức là công phu tu hành mạnh mẽ, sức chịu đựng cứng cỏi chớ không phải tầm thường. Như vậy sao gọi là nhục nhã được! Thắng được mình còn hơn một ông tướng thắng cả một vạn quân. Người nhẫn nhục thắng được mình thì đâu phải yếu đuối.

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta gặp rất nhiều điều bất như ý. Nếu chúng ta không có sức chịu đựng, không có sức kham nhẫn thì chúng ta sẽ đau khổ liên miên. Ngược lại chúng ta đủ sức kham nhẫn chịu đựng thì chúng ta sẽ được an vui tự tại. Vì vậy Phật dạy người tu phải tập đức nhẫn nhục. Đức nhẫn nhục đã được đầy đủ gọi là mặc áo Như Lai.

Cho nên người tu không nên có thái độ nóng giận, lúc nào cũng e dè sợ sệt một cơn giận nổi lên. Nó là cái họa lớn, thiêu đốt công đức bao nhiêu năm tu hành khổ cực của mình. Đức Phật dạy “chỉ một đốm lửa sân làm cháy cả rừng công đức”. Nếu chúng ta luôn nghĩ tới đạo đức, nghĩ tới công phu của mình thì phải khéo dè dặt, đừng cho những cơn nóng giận khởi lên.

Nhẫn nhục có chia làm ba.

Một là nhẫn với người. Đối với lời nói trái tai, hành động gai mắt hoặc người mắng chửi đánh đập mà chúng ta nhẫn được, bỏ qua hết, không buồn giận, đó là chúng ta nhẫn nhục với người khác. Trong kinh A-hàm có câu chuyện ngài Phú-lâu-na. Khi Ngài xin đức Phật về phương Bắc giáo hóa, đức Phật liền hỏi: Này Phú-lâu-na, người phương Bắc hung hăng lắm, nếu ông về đó giáo hóa họ sẽ chửi mắng ông, ông nghĩ thế nào?

Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con, con nghĩ họ cũng còn lương thiện vì chưa đánh đập con.

Phật nói: Giả dụ họ đánh đập ông thì ông nghĩ thế nào?

Ngài thưa: Bạch Thế Tôn, nếu họ đánh đập con, con nghĩ họ cũng còn lương thiện vì chưa giết con chết.

Phật bảo: Nếu họ giết ông chết thì ông nghĩ thế nào?

Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con chết thì họ là người ơn của con vì nhờ họ mà con bỏ được cái thân tứ đại hôi thối này.

Phật nói: Được. Như vậy thì ông nên đến đó giáo hóa.

Quí vị thấy đức nhẫn nhục của Ngài cỡ nào? Trong đại chúng, chúng ta chỉ nhẫn nhục các việc nói nặng, nói nhẹ với nhau thôi, vậy mà có khi chịu không nổi. Còn Ngài bị chửi bới, đánh đập cũng nhẫn được cho đến giết chết cũng nhẫn luôn, không thù hằn mà còn mang ơn nữa.

Đây là tấm gương cho chúng ta học. Tu là phải như vậy. Đừng nghĩ mình cãi giỏi, nói hay là tốt. Càng cãi giỏi nói hay, lấn lướt người thì tội lỗi càng tăng chớ không phải giảm. Đó là phần thứ nhất, nhẫn với người.

Hai là nhẫn với mình. Mình có gì đâu mà nhẫn. Thật ra là nhẫn với mình rất khó. Nhẫn với mình là nhẫn sự đau đớn, bệnh hoạn. Có người nào đau bệnh mà không rên không? Đó là cái bệnh. Nên chúng ta tu phải ẩn nhẫn khi cơ thể bệnh hoạn, đau yếu, phải bình tĩnh cố gắng hạn chế, đau trăm phần chúng ta chỉ nói đau hai mươi phần thôi. Chớ mỗi lần đau khóc lên, khóc xuống rên rỉ om sòm cho mọi người chú ý đến mình. Trong đạo như vậy là kẻ yếu đuối chớ không phải hay.

Kế là nhẫn với sự đòi hỏi của thân, thèm cái này, muốn cái nọ… những sự thụ hưởng. Như người mới tu chừng một hai năm, đi ngang qua chỗ nướng thịt cá thì phát thèm. Đó là nhẫn không được nên khởi niệm bậy. Ẩn nhẫn những thứ thèm muốn, những đòi hỏi của mình gọi đó là nhẫn với mình.

Như vậy nhẫn nhục là có sức chịu đựng rất mạnh mẽ cứng cỏi chớ không phải chuyện thường. Đối với những gì mình ưa thích cũng phải bỏ. Như người xuất gia xem thân này là đãy da hôi thối, vậy mà lâu lâu cũng có người nhìn mình xem đẹp hay không. Rồi sửa sang chút chút cho dễ coi. Thậm chí ngày nay tôi nghe nói cũng có kẻ thoa kem cho da mịn. Việc đó có trái với đạo lý không?

Người tu khi xuất gia, cạo tóc đã tự nguyện hủy hình thủ khí tiết. Hủy hình là làm cho thân xấu đi. Phụ nữ ngoài đời, người ta sửa sang mái tóc cho đẹp, cho duyên dáng. Còn người tu đã cạo bỏ phứt rồi, bây giờ còn muốn thoa môi son hay đánh kem thì coi hết được! Đó là trái với lẽ thật của mình. Những gì mình ưa thích trái với tư cách của người tu, trái với bản nguyện của người xuất gia thì chúng ta phải ẩn nhẫn, dẹp nó qua một bên, đừng để nó lôi kéo mình. Được như vậy mới là người khéo tu. Nếu không chúng ta sẽ quên đi bản nguyện xuất gia cầu giải thoát ban đầu.

Chẳng những người xuất gia mà hàng cư sĩ tại gia cũng vậy, thấy điều gì mình thích mà trái với đạo lý thì phải giảm, phải hạn chế chớ đừng theo nó. Như vậy là biết nhẫn với mình.

Ba là nhẫn với hoàn cảnh, thời tiết. Sống trong đạo cũng có khi gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn. Trong kinh Phật dạy nơi nào có Phật pháp, dù cho đói rét cũng phải theo thầy tu học. Còn nơi có gạo dư thừa mà thiếu đạo đức, cũng nên bỏ mà đi. Như vậy những nơi nào có Phật pháp chúng ta ở đó gặp hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, nhiều phiền hà, bực bội cũng phải ráng ẩn nhẫn, vì Phật pháp, vì sự tu chớ không vì sự ăn uống. Người được như vậy là người chiến thắng bản thân mình, chiến thắng được hoàn cảnh. Rồi còn phải nhẫn với thời tiết bức bách, chúng ta chịu đựng không than van, vẫn thản nhiên tự tại. Đó là chúng ta biết nhẫn.

Như vậy người tu muốn mặc áo Như Lai phải nhẫn nhục, tức là nhẫn người, nhẫn mình, nhẫn hoàn cảnh thời tiết v.v… Lúc nào cũng chấp nhận khó khăn, không bao giờ chán nản. Người mạnh như thế mới sống đúng với câu Phật dạy: “Thắng một vạn quân không bằng tự thắng mình.” Đó gọi là mặc áo Như Lai.

Đến phần ngồi tòa Như Lai là quán tất cả pháp Không. Chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu tất cả các pháp trên thế gian này do nhân duyên hợp thành, không có chủ thể cố định. Luôn dùng trí tuệ quán sát thấu triệt như vậy.

Ví như nhìn một ngôi chùa, chúng ta quán xét xem cái gì là chủ ngôi chùa. Trong đó nào là xi măng, cát, đá, ngói, gạch v.v… tụ hội lại. Chúng ta hiện thấy ngôi chùa như vậy nhưng thật ra đó là một hợp thể do nhiều thứ hợp lại, thì cái gì là chủ? Không có chủ, cũng không cố định. Hiểu như vậy thì từ cái nhà, cái bàn cho tới con người của mình cũng thế, do tứ đại hợp thành nên thân này không thật, cũng không có chủ. Hiểu như vậy là hiểu được lý Không.

Chúng ta quán sát bằng trí tuệ, thấu suốt được sự vật bên ngoài đều do nhân duyên hội hợp, không có thật thể cố định. Do không có thật thể, không cố định nên nói nó không thật. Thấy như vậy là quán pháp Không. Nói quán pháp Không là nói lý nhân duyên. Nhà Phật nói tất cả pháp đều từ nhân duyên sanh, nên trong kinh A-hàm có đoạn đức Phật dạy: “Thấy được lý nhân duyên, tức là thấy được pháp, thấy được pháp tức là thấy được chân lý.”

Vì trên thế gian này không có vật gì tự nó thành mà phải do nhiều thứ hợp lại. Tôi thường thí dụ, bàn tay của tôi, nếu co năm ngón lại thì gọi là nắm tay. Nắm tay này thấy dường như có thật mà không phải thật. Vì năm ngón co lại, nếu năm ngón buông ra thì còn gì là nắm tay? Do duyên hợp tạm có, duyên tan trở về không.

Tất cả pháp trên thế gian đều do nhân duyên sanh, không có chủ thể nên không thật, không cố định. Vì vậy nói là hư ảo. Trong Trung Quán Luận ngài Long Thọ nói về lý nhân duyên như sau:

Nhân duyên sở sanh pháp
Ngã thuyết tức thị không
Diệc danh vi giả danh
Diệc danh trung đạo nghĩa.

Nghĩa là các pháp do nhân duyên sanh nên Phật nói tức là không. Tại sao? Vì nó không có chủ thể, đâu có gì là cố định, duyên hợp thì có, duyên tan thì mất, không thật, nên nói là không. Không đây là không có chủ thể, không cố định chớ không phải không ngơ, không có gì hết cả.

Khi duyên hợp thì tạm có giả tướng, nên nói “diệc danh vi giả danh”. Như nắm tay chưa có bao giờ, chỉ khi co năm ngón lại mới có nắm tay, như vậy nắm tay là cái giả danh thôi. Nắm tay giả danh thì bàn tay có giả danh không? Nắm tay chúng ta dễ thấy còn bàn tay hơi khó thấy hơn. Vậy chúng ta hãy phân tích xem, bên ngoài bàn tay thì có da, trong năm đốt xương ngón tay có thịt, gân, máu. Phân ra từng món có còn bàn tay không, có còn từng ngón tay nữa không? Như vậy nắm tay không thật, bàn tay hay ngón tay cũng không thật, chỉ là giả danh thôi. Nếu chúng ta chấp giả là thật thì đó là si mê.

Người tu không cho phép mình si mê mà phải luôn luôn có trí tuệ. Vậy mà lâu lâu, quí cô muốn đeo cái gì đó trên tay cho đẹp, thì sao? Hiện tướng gì? Phật tử ngoài thế gian si mê đã đành đi, còn người tu mà si mê như vậy thì không tha thứ được rồi. Đã biết nó không thật, là giả danh thì còn gì phải trang sức cho đẹp. Thấy được tướng bên ngoài là giả danh, không phải thật, nên nói “diệc danh trung đạo nghĩa”. Ai thấy được như vậy, biết được như vậy là hiểu nghĩa trung đạo. Nên chữ Không trong nhà Phật không phải không ngơ mà đó là không có Thật thể, chỉ là giả danh. Biết rõ như vậy chúng ta không chấp thật không, cũng không chấp thật có. Đó là thấy được lý trung đạo. Lý trung đạo là lý thật.

Qua bài kệ này quí vị thấy rõ, chúng ta tu phải có trí tuệ, phải thấy rõ tất cả các pháp do nhân duyên sanh. Hiểu như vậy thì hết chấp, mà hết chấp là sáng suốt. Vì vậy người tu Phật phải có trí tuệ. Nhờ trí tuệ nên thấy đúng như thật, không còn mê, không còn lầm lẫn say mê vật chất thế gian, không chạy theo những ảo tưởng giả dối, có thế mới thật là người học đạo.

Vì người học đạo là người đi tìm chân lý, tìm lẽ thật. Nếu hiểu sâu xa cùng tột đạo lý của Phật thì đối với thân này được cũng không mừng, mất cũng không buồn, vì nó tạm bợ giả dối do duyên hợp. Kinh Bát-nhã, Phật dạy: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Nghĩa là thấy năm uẩn không thật, duyên hợp hư ảo liền qua hết khổ nạn. Đó là trí tuệ.

Quí vị xét chỉ cần ba điều Phật dạy trong kinh Pháp Hoa, nếu chúng ta biết ứng dụng tu hành thì đã giải thoát sanh tử chưa? Cho nên chúng ta khéo ứng dụng theo lời Phật dạy thì chúng ta sớm được an lành, sớm được giải thoát.

Hiện nay Phật tử chúng ta thích tụng kinh Pháp Hoa lắm, nhưng tụng để hiểu như tôi nói hay tụng để tính quyển? Nếu tụng để tính quyển chớ không ứng dụng theo lời Phật dạy thì đúng là tu Pháp Hoa chưa? Lời Phật dạy như vàng ngọc, nếu chúng ta biết ứng dụng tu hành, ứng dụng vào cuộc đời thì quí vô kể.

Nhưng đáng tiếc Phật tử không biết đúng, chỉ nghĩ tụng kinh cho có phước. Nên lúc nào làm ăn sơ thất liền phát nguyện đi chùa tụng kinh Pháp Hoa để cầu phát tài. Như vậy tụng Pháp Hoa để tìm chân lý hay vì lợi dưỡng. Quí Phật tử tự kiểm lại xem mình ở dạng nào? Thế nên Tăng Ni cũng như tất cả Phật tử chỉ cần chân thành ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống hằng ngày của mình thì chắc chắn sớm được hết khổ đau trong đời này và giải thoát sanh tử ở những đời sau.

Tóm lại tất cả người tu chúng ta dù xuất gia hay cư sĩ đều phải đủ ba đức tánh này, mới gọi là người chân chánh tu Phật. Đó là vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai. Phật tử là con cháu của Phật nên mới dám vào nhà Phật, dám mặc áo Phật, dám ngồi tòa Phật. Nếu không dám vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật thì chừng nào thành Phật tử! Con Phật mà không dám vào nhà Phật thì còn gọi là con Phật không? Vì vậy ai là con Phật, ai là người đệ tử trung thành của Phật phải đủ ba điều kiện trên. Được vậy chúng ta mới kế thừa địa vị của Như Lai, không nghi ngờ.

Đó là điều tôi nhắc nhở tất cả Ni chúng cũng như tất cả Phật tử hôm nay ráng học, ráng tu, làm sao chúng ta tu học đúng với ý nghĩa là người con chân chánh của Phật, người xuất gia chân chánh, đừng để lệch lạc sai lầm uổng một đời, sau này hối hận không kịp.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 75: Đạo Phật từ bi

Đạo Phật là đạo từ bi. Chúng sanh khổ thì ta khổ, chúng sanh vui thì ta vui. Chúng ta phải thấy rõ người làm ác là người đáng thương, vì họ sẽ khổ ở ngày mai. Người làm lành mình vui mừng với họ, vì mai kia họ sẽ bớt khổ, sẽ sung sướng hơn. Đối với người ác thì ta thương, đối với người hiền thì ta mừng, bên nào cũng tốt cả. Còn những thứ vui trong nỗi khổ của kẻ khác, tuyệt đối chúng ta không làm.

Có lắm người đòi hỏi tự do, mong cầu giải thoát, mà cứ đòi hỏi nơi kẻ khác, mong cầu nơi bề trên, hoặc đôi khi chà đạp tự do của người khác để mình được tự do – những điều này thật là việc mò trăng đáy giếng, bắt bóng trên không, không có kết quả. Đễ đạt được tự do và giải thoát, qúy Phật tử nên trông cậy vào mình, tranh đấu với mình, tự dứt sạch những bệnh ghiền, những phiền não, và lấy giáo lý của đạo Phật làm tiêu chuẩn. Không ai cởi mở được cho ta, chúng ta phải tự cởi mở lấy.

Phật giáo dạy chúng ta lấy đạo đức làm cứu cánh, dù việc làm có lợi cho Đạo, cho đoàn thể mà thương tổn đạo đức, nhất định không làm. Làm tổn thương người mà lợi cho Đạo, nhất định không phải Phật giáo. Dù kẻ ác đến thế nào cũng còn đôi chút lương tri, chúng ta tin tưởng như thế, cố gắng tìm cách cảnh tỉnh họ. Nếu họ thay đổi được tâm niệm xấu ác, thật là một điều may mắn biết mấy. Bằng họ không thay đổi, chúng ta vẫn xem họ là ân nhân của chúng ta. Vì họ đã chịu hy sinh để đưa chúng ta lên nấc thang chót vót của đạo đức.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 76: Tự mình tạo nên đời mình

Phật đã từng tuyên bố rằng: “Ta không có quyền ban phước, giáng họa cho ai”. Nếu Phật ban phước giáng họa được thì Phật không dạy chúng ta tu nhân quả. Tạo nhân lành thì hưởng quả lành, tạo nhân ác thì hưởng quả ác. Chúng ta tạo chúng ta hưởng, Phật không có can thiệp chút nào hết. Phật chỉ dạy chúng ta biết đường lối tu để dẹp phiền não, hết khổ đau.

Người tu giá trị không phải là có thần thông, biết quá khứ vị lai, mà giá trị ở chỗ gặp lợi mình vẫn bình thản, gặp suy mình vẫn an ổn, cho đến gặp khổ hay vui mình cũng an nhiên.

Điều cần thiết của người Phật tử phải siêng lo quán xét tự tâm diệt trừ phiền não. Mãi lo phiền trách kẻ khác, dèm chê lầm lỗi của người, tâm hồn chúng ta càng ngày héo xào cằn cỗi. Lo chạy tìm kiếm bên ngoài chúng ta càng xa đạo. Viên “bảo châu như ý” đã nằm sẵn trong lai áo, chúng ta chỉ có mỗi một việc “chịu khó nhận ra nó để dùng”. Giữ gìn tâm ý trong sạch là cội nguồn của sự tu tập.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 77: Đạo Phật ngay trong bản thân mình

Người đời khổ vì mắt thấy sắc cho là đẹp, muốn được về mình, không được thì buồn. Tai nghe tiếng hay muốn tiếng đó tiếp tục mãi, không được cũng buồn. Lưỡi thích vị ngon nên đưa vị dở vô cũng buồn. Chúng ta cứ đuổi theo, đòi hỏi năm trần thành ra khổ. Nếu mình không dính mắc gì hết, không có niệm đuổi theo nó thì cứ đói ăn, mệt ngủ, không ngại chi cả. Tu tức là tìm nguồn an lạc trong tâm, chớ không phải có nhiều tiền nhiều của. Chỉ không dính mắc bên ngoài là tâm an lạc.

Chúng ta sống trong lòng xã hội, nên mỗi cái xấu, mỗi cái dở của xã hội đều liên hệ, ảnh hưởng tới mình. Đừng nghĩ rằng miễn mình được phần mình thì thôi, còn ai khổ mặc họ. Phải nghĩ rằng, giúp cho người là giúp cho mình. Phải chia sớt nhau cho bớt khổ, để được vui. Làm các điều lành là sống với tâm đạo đức. Việc lành lớn, việc lành nhỏ nào, mình cũng sẵn sàng làm, sẵn sàng giúp người. Đó là tu.

Trong đạo Phật có câu: “Phật hóa hữu duyên nhân”, đức Phật giáo hóa người có duyên với Ngài mà thôi. Ai có duyên thì đến với Phật, chớ Phật không nói đạo Phật là đúng, đạo khác là sai. Chúng ta học Phật phải tập tâm cởi mở, xả bỏ những cố chấp riêng tư, dù chấp tôn giáo mình cũng là bệnh nữa. Những gì chúng ta thấy đều do Phật dạy, mình biết mình tu. Ai thấy hợp thì tu theo, còn thấy không hợp thì thôi, ta chỉ cười chớ đừng giận. Đạo mình kính trọng mà nghe ai nói ngược lại, mình nổi sùng lên thì chưa gọi là hiểu đạo. Không cố chấp thì cuộc đời an vui, hạnh phúc, sống với mọi người rất hòa nhã.

Phật tử muốn tuyên dương Phật pháp, hãy tự mình sống đúng như Phật pháp. Ðó là sự cúng dường cao tột nhất. Chư Phật sẽ nhất tâm tùy hỷ cho người có trình độ sống như vậy. Và từ đó mọi rối rắm của cuộc sống sẽ lần hồi được giải quyết ổn thỏa. Ðó là đã được pháp lực gia hộ. Một sự gia bị bất khả tư nghì. Chớ nhìn Phật pháp trên hình tượng Phật, hãy nhìn Phật pháp ở nơi mình, và ở ngay trong lòng cuộc sống.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 78: Khéo léo điều hòa

Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền não trong lòng hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Các phật tử tại gia nên nhớ, nếu trong gia đình chúng ta không xả được cứ giận vợ, giận con, giận anh chị em hoài thì không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người này ăn hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình, gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy thì người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết.

Chỉ khi người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật ý, xem đó như là lỡ lầm của người không gì quan trọng hết, không có gì phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc.

Chúng ta tu hành nên sống đem lại an vui cho mình, cho người. Muốn được như vậy mình đừng xem ai là kẻ thù hết. Làm sao trong cuộc sống gia đình chồng vợ biết nhịn nhau, đã là bạn đời nên hòa vui, đừng bao giờ thù hận. Cuộc sống từ cá nhân, gia đình cho tới tập thể, không bao giờ hoàn toàn đúng theo ý mình, được chừng sáu mươi, bảy mươi phần trăm là tốt lắm rồi, đừng đòi hỏi như ý một trăm phần trăm. Những người đòi hỏi như vậy là hiểu sai lầm, không đúng lẽ thật. Phương pháp nhẫn nhịn sẽ đưa chúng ta tới chỗ an ổn. Nhẫn nhịn là khéo léo điều hòa ngọn lửa, đừng để nước dập tắt lửa, cũng đừng để lửa đốt cạn nước.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 79: Ba điều khó được

trích “Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm – Khóa Hư Lục”

HT. Trúc Lâm dịch

“…Thân này có ba điều khó được. Thế nào là ba?

1. Trong lục đạo chỉ có người là quí, đến khi nhắm mắt đi rồi, mờ mờ mịt mịt chẳng biết chỗ đến. Hoặc vào đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, a-tu-la chẳng được làm người. Đây là cái khó được thứ nhất.

2. Đã được làm người, lại sanh nơi mọi rợ, tắm thì đồng sông, ngủ thì chung giường, trật tự tôn ti không có, nam nữ lẫn lộn, chẳng được phong tục nhân thuần, chẳng nghe chư Thánh giáo hóa. Đây là cái khó được thứ hai.

3. Đã được sanh nơi phồn thịnh mà sáu căn không đủ, thân thể tật nguyền, mù, điếc, câm, ngọng, què, thọt, còng, gù; miệng mũi hôi tanh, thân hình nhơ nhớp. Thầy chẳng được gần, chúng chẳng được thân. Tuy ở nơi phồn thịnh dường thể ở ngoài quê vắng. Đây là cái khó được thứ ba.

Nay đã làm người, được sanh nơi phồn thịnh lại đầy đủ sáu căn, đâu chẳng là quí sao? Người đời luôn luôn đuổi theo con đường danh lợi, luống nhọc xác tổn thần, đem thân mạng rất quí báu này làm tôi tớ cho tiền của đáng khinh. Sánh với người ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên môi nào có khác gì. Tuy thân mạng thật là quí trọng, vẫn chưa quí trọng bằng đạo tối cao. Cho nên Khổng Tử nói: “Sớm nghe đạo chiều chết cũng vui.” Lão Tử nói: “Tôi sở dĩ có hoạn lớn, vì tôi có thân.” Thế Tôn thuở xưa cầu đạo xả thân cứu cọp đói. Đâu chẳng phải ba bậc Thánh nhân đều khinh thân mà trọng Đạo đó sao?..”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 80: Con đường đi đến Phật Đạo

Tất cả chúng ta tu ai cũng sợ vọng tưởng dấy khởi, cho nên vọng khởi là liền bỏ, liền dẹp. Khi bỏ dẹp rồi, lúc đó nói mình không còn vọng tưởng. Nhưng chú thứ hai thứ ba trồi lên rồi bỏ dẹp… cứ làm như vậy suốt buổi có mệt không? Quả là còn nhọc hơn mấy người nông phu cuốc đất ngoài đồng nữa, phải không?

Ra đồng cuốc đất, giở cuốc lên cuốc xuống, làm mệt đứng chống cuốc thở, ngó trời ngó mây chơi. Còn mình ngồi đó, một giờ hai giờ có dám nghỉ đâu. Lúc nào cũng phải dòm chừng, hết chú này tới chú khác trồi lên liên miên. Một hai giờ đồng hồ không nghỉ chút nào hết.
Như vậy người tu mới nhìn qua thấy thảnh thơi, ngồi lim dim đó mà thực là đổ mồ hôi hột, không chút rảnh rỗi, nhàn hạ. Bởi vì chúng ta quen nhìn sự vật bên ngoài theo lối hình thức phân biệt tướng mạo, vì vậy cái gì có hình tướng, có phân biệt thì chúng ta hiểu nhận, còn cái gì không hình tướng, chúng ta lại không biết.

Ai cũng nói tâm là cái biết, là phần tinh thần của mình. Như vậy khi khởi nghĩ phân biệt hơn thua, phải quấy, tốt xấu là chân hay giả? Khi vọng tưởng thứ nhất lặng, chừng một giây hay hai giây vọng tưởng thứ hai dấy lên, thì khoảng trống giữa cái thứ nhất với cái thứ hai đó, chúng ta hữu tri hay vô tri? Hữu tri tức là có tâm. Vọng tưởng dấy lên thì có suy nghĩ, cái suy nghĩ đó là động. Mỗi một niệm dấy lên là động, động là tướng sinh diệt. Khi nó lặng, khoảng giữa này không dài, nhưng vẫn có một khoảng giữa trước khi niệm thứ hai dấy lên. Khoảng giữa đó, nếu không có tri thì niệm thứ hai dấy lên mình không thấy. Nhưng niệm thứ hai vừa trồi đầu lên, mình thấy liền, như vậy trong khoảng giữa đó có tri hay vô tri? Có tri. Cái tri của khoảng giữa đó là cái tri bất sinh bất diệt.

Khi chúng ta khởi nghĩ nhớ ba, nhớ má, thì hình bóng ba má hiện ra. Ta liền nói “vọng, buông!”. Buông thì nó lặng xuống, im lìm được một chút lại dấy lên nhớ chú, nhớ bác. Khi đó hình dáng chú, bác hiện ra. Như vậy khoảng giữa của hai niệm là cái biết không sinh diệt. Như vậy ngồi thiền hai tiếng đồng hồ, giả sử có hai trăm lần vọng tưởng, mất đi một tiếng đồng hồ, còn lại một tiếng lặng lẽ, quý vị đang làm gì, ở đâu? Chỗ này phải nhìn cho thật sâu mới thấy hết giá trị của nó. Trong hai trăm lần vọng tưởng mất một giờ động, nhưng cũng có một giờ tịnh, phải không??

Một giờ tịnh là không mê. Vừa dấy niệm chúng ta liền thấy, đó là yên tịnh trong cái rõ ràng thường biết. Góp lại từng chặng từng chặng rõ ràng thường biết đó được một giờ, như vậy buổi ngồi thiền đó hữu ích hay vô ích? Tối thiểu chúng ta cũng được một giờ yên tịnh. Vậy mà chúng ta cứ nhớ hai trăm lần vọng tưởng, bỏ quên cái khoảng lặng quý giá đó, nên cho rằng mình tu sao chỉ thấy toàn vọng tưởng, không được thanh tịnh giây phút nào.

Người mới tu mà muốn được rỗng rang, sạch làu làu, không còn gì hết sao được. Phải chia chớ! Chia cho vọng một chút phần. Tu là đang dành khoảng yên lặng nhiều vọng tưởng ít, đi từ từ như vậy. Ngày xưa Tổ Huệ Khả than với Tổ Bồ-đề-đạt-ma:

– Tâm con không an, nhờ Hòa thượng dạy pháp an tâm.

Tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo:

– Đem tâm ra ta an cho.

Ngài Huệ Khả sực tìm. Lúc trước, Ngài nhớ nó chạy lăng xăng hoài sao bây giờ dòm lại mất tiêu. Khi đó, Ngài bạch với Tổ rằng:

– Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

Tổ Đạt-ma bảo:

– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Ngay đó Tổ Huệ Khả nhận ra, biết được đường vào. Biết được đường vào, nhưng phải trải qua thời gian khá dài tu tập.

Một hôm, Tổ Huệ Khả thưa:

– Bạch Hòa thượng, hiện nay con bặt hết các duyên.

Tổ Đạt-ma bảo:

– Coi chừng rơi vào không.

Ngài nói:

– Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

Tổ Đạt-ma liền nói:

– Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế.

Nghĩa là sao? Nghĩa là bặt hết các duyên mà rõ ràng thường biết thì ông được như vậy, ta được như vậy, chư Phật cũng được như vậy. Chư Phật được như vậy nên các Ngài thành Phật. Bây giờ ta được như vậy rồi ta cũng sẽ thành Phật, ông được như vậy ông cũng sẽ thành Phật.

Trên đường tu, nhiều khi chúng ta mắc kẹt ở ngôn ngữ văn tự, mà không thấy được bản chất thực, giá trị thực của sự tu. Bây giờ phải thấy giá trị thực của nó. Chúng ta chỉ mới bặt được mười phần trăm, hai chục phần trăm hoặc năm chục phần trăm các duyên thôi. Như vậy so với chư Tổ còn cách xa nhiều, tuy nhiên cũng có một hai phút bặt duyên. Chỗ bặt hết các duyên nhà thiền gọi là ÔNG CHỦ, các duyên lăng xăng lộn xộn gọi là KHÁCH. Khách thì có hình dáng, chủ không có hình dáng. Bởi không hình dáng nên khó nhận, còn khách có hình dáng nên dễ nhận. Vì vậy suốt mấy giờ ngồi thiền, chúng ta chỉ thấy khách chớ không thấy chủ. Đó là vì mình sơ suất.

Niệm khởi là duyên, hết các duyên mà rõ ràng thường biết, đó chính là chỗ Tổ Bồ-đề-đạt-ma ấn chứng cho Tổ Huệ Khả. Ấn chứng bằng cách “ông như thế, ta như thế”, tức ta và ông không khác nhau. Chẳng những ông như thế, ta như thế, mà chư Phật cũng như thế luôn. Ba bốn con dấu giống hệt nhau. Đó là ấn chứng sâu đậm. Hiểu tới nơi rồi chúng ta mới thấy giá trị của sự tu.

Người không biết tu thì cảm thấy sự tu như vô ích. Năm ngoái ngồi cũng vọng tưởng, năm nay ngồi cũng vọng tưởng, chắc năm mười năm nữa cũng vọng tưởng! Tu như vậy buồn chết. Phải thấy năm ngoái trong một giờ bao nhiêu lần vọng tưởng, năm nay một giờ bao nhiêu lần vọng tưởng. Nó thưa từ từ. Thưa vọng tưởng từ từ, thì ông chủ hiện ngày càng rõ hơn. Vọng tưởng càng vắng, ông chủ càng hiện, chứ có thiếu chỗ nào. Nên biết giờ ngồi thiền không phải thiệt thòi. Chẳng những giờ ngồi thiền thôi, cho tới giờ đi tưới hoa, nhổ cỏ, nấu cơm, lặt rau v.v… cũng biết rõ từng niệm khởi. Đó là chúng ta không thiếu ông chủ. Hiểu cho thật kỹ chúng ta mới thấy ý nghĩa, giá trị của người tu thiền.

Một số người cứ ngỡ rằng vào Niết-bàn là vào một cảnh giới rực rỡ, có đủ thứ tốt đẹp. Tưởng Niết-bàn như vậy là Niết-bàn tưởng tượng. Niết-bàn là vô sanh, vô sanh mà hằng tri hằng giác, chứ không phải vô sanh mà vô tri vô giác. Cái hằng tri hằng giác đó cũng gọi là Phật tánh. Như vậy nhận được cái vô sanh hằng tri giác là nhập được Phật tánh của mình. Nếu nhập được Phật tánh của mình thì gọi là Phật. Chúng ta cứ mong thành Phật, được ngồi trên tòa sen có hào quang rực rỡ, nhưng không biết ông Phật đó là Phật sanh tử. Phật Pháp thân thì không có hình tướng.

Cho nên người biết tu sẽ được kết quả rất cụ thể, còn người không biết tu, hết nghĩ chuyện này đến chuyện nọ liên miên, nên không có kết quả. Trong khi cái biết thầm lặng luôn ở bên mình lại không hay, không nhớ tới. Do không nhận được cái hằng tri hằng giác thầm lặng ấy, nên chỉ nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ phải nghĩ quấy, cho đó là tâm. Chấp giữ khư khư thân sinh diệt và tâm sinh diệt là mình thì trách gì không đi trong luân hồi sanh tử muôn kiếp. Bởi cho cái sinh diệt là mình nên vừa mất cái sinh diệt này liền ôm cái sinh diệt khác, cứ liên miên như vậy, chịu vô lượng khổ đau, không có ngày ra khỏi.

Nếu biết rõ thân này vô thường sinh diệt, tâm phân biệt hơn thua phải quấy cũng vô thường sinh diệt; chỉ có cái hằng tri hằng giác, không hình không tướng đó mới thật là mình, thì đâu còn chạy theo hay chấp giữ cái vô thường sanh diệt làm gì nữa. Ngay đây dừng lại tất cả vọng tưởng đảo điên, thân tâm an vui, tự tại. Đó chính là con đường đi đến Phật đạo.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 81: Đức tự tin của người Phật tử

Đề tài chúng tôi giảng hôm nay là Đức tự tín của người Phật tử. Nếu xét tận gốc của đạo Phật, chúng ta phải hiểu đạo là phương pháp, là con đường, Phật là giác ngộ. Chúng ta tu theo đạo Phật là tiến trên con đường giác ngộ, mà tiến trên con đường giác ngộ thì phải có trí tuệ. Trí tuệ không đi đôi với lòng tin, nhưng tại sao ở đây tôi nói đức tin của đạo Phật? Bởi vì qua bao nhiêu năm làm Phật sự ở miền Nam, đi giảng dạy và liên hệ các nơi tôi thấy Phật tử chúng ta gần đây dường như là mất lòng tự tín. Tự tín tức là tin mình, mà đức tin trong đạo Phật là đức tự tín, chứ không phải đức tin để cầu xin ở bên ngoài. Người tu theo đạo Phật là phải dẹp bỏ những thứ phiền não căn bản như: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Dẹp được phiền não mới có công phu tu hành. Nhưng muốn dẹp phiền não chúng ta phải dẹp hay cầu xin Phật dẹp giùm chúng ta. Tôi thấy nhiều Phật tử đến trước bàn Phật thắp hương khấn nguyện, nguyện Phật gia hộ cho con được tiêu trừ phiền não, nhưng Phật có thể làm cho ta sạch phiền não được không? Hay là chúng ta phải tự phủi, tự dẹp, phải đập phá cho nó tiêu tan. Chúng ta nguyện đem hết sức mạnh của mình tiêu diệt các thứ phiền não? Chứ Phật làm sao giúp được. Nếu chúng ta ra đường thấy cái bóp rơi, lòng tham dấy lên, đưa tay ra lượm thì làm sao Phật can thiệp kịp phải không? Ngay lúc ấy chỉ có lương tri, trí tuệ của mình mới chặn đứng, mới ngăn cản được lòng tham. Như vậy phiền não ở nơi mình, thì cũng chính mình là chủ nhân ông tiêu diệt nó, chớ không phải cầu xin nơi đức Phật hoặc vị thần linh nào khác. Như vậy Phật tử tu cứ cầu Phật cho mình hết phiền não là đúng hay sai, là tự tin hay không tự tin? Tin Phật chứ không phải tin mình. Mà chỉ tin Phật thì chúng ta đã mất tự tín rồi. Phật dạy chúng ta dẹp phiền não để chứng Bồ-đề, nhưng chúng ta không dẹp phiền não thì Bồ-đề làm sao chứng được. Quý đạo hữu, quý Phật tử nữ đi chùa thắp hương thường cầu xin điều gì? Xin Phật cho làm ăn phát tài, cho con thi đậu, cho gia đình hạnh phúc, cho con được mọi người thương mến v. v… mà những điều đó Phật cho được không? Làm sao cho được, bởi chúng ta không tự tín, không tin ở mình, mà chỉ tin ở Phật. Nhưng Phật đã nói, đã tuyên bố hẳn hoi rằng: "Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai". Phật không có quyền ban phước giáng họa mà chúng ta xin thì làm sao đây? Đó là điều hết sức rắc rối. Phật dạy dẹp phiền não thì tâm an tịnh, dẹp phiền não thì hết khổ đau mà mình không chịu dẹp, cứ cầu cho mình hết khổ, cho mình được nhẹ nhàng thảnh thơi, làm sao mà được. Đó là điều mà người Phật tử không thâm nhập được đạo lý chân chánh nên mới có những thứ mong cầu không hợp đạo lý như vậy. Đó là tôi nói mất tự tín nơi bản thân mình. Và điều đáng buồn hơn nữa, chúng ta lại không tin mình mà lại tin ở những sức mạnh bên ngoài. Tôi thí dụ như một số cư sĩ tại gia, khi muốn cất nhà trước hết quý vị kiếm thầy xem tuổi, đoán tốt xấu. Nếu ông thầy nói năm nay sát chủ, quý vị có dám cất không? Đang lúc trong túi có tiền nhưng nghe nói năm tuổi hay năm sát chủ không dám cất, chờ tới năm tốt. Nhưng tới năm tốt thì lỡ xài hết tiền, phải làm sao đây? Như vậy chúng ta tin vào số, tin vào tuổi, tin tất cả những thứ bên ngoài mà không tin ở mình. Đó là các Phật tử, nhưng thậm chí ở trong nhà chùa có nhiều thầy sửa soạn cất chùa cũng phải coi năm tốt không, cất được không? Nếu được năm thì mới dám cất, bằng không thì thôi. Đó là quan niệm sai lầm rất lớn. Ngày nay chúng ta đã khá giả, nhiều Phật tử cất nhà đúc bê tông, mà nếu đúc bê tông thì ở ít ra cũng năm ba chục năm, người đó bây giờ nếu đã năm sáu mươi tuổi thì có chết trong nhà đó không? Nếu chết trong nhà đó thì lựa ngày nào cũng sát chủ cả. Tôi nói ví dụ này cho quý vị thấy cụ thể rằng, sợ ngày sát chủ không dám cất nhà, vậy cất ngày nào khỏi sát chủ đây! Chỉ có cất chòi mới khỏi sát chủ, còn cất nhà đàng hoàng chắc chắn phải sát chủ thôi. Như vậy giá trị của ngày giờ có đúng hay không? Nếu ngày giờ đúng thì trên thế gian này mọi người đều giàu, đều bình yên hết. Vì có người cất nhà, họ coi ngày rất kỹ nhưng sau năm bảy năm hay năm sáu tháng họ cũng vẫn bỏ nhà chạy như thường. Như vậy coi ngày đúng hay không? Sự việc cụ thể trước mắt như vậy mà đa số Phật tử cứ nơm nớp sợ. Như có việc phải đi xa thì sợ ngày mùng 5,14,23 nên lựa ngày lành đi. Nếu ngày lành đi được bình yên thì mấy chú ăn trộm, ăn cướp cứ lựa ngày lành làm ăn chắc phát đạt lắm phải không? Nhưng đã ăn trộm, ăn cướp thì ngày nào cũng là ngày nguy hiểm hết. Còn chúng ta làm lành, làm phước thì ngày nào cũng là ngày tốt, vì nhân tốt thì quả phải tốt; nhân ác thì quả phải ác. Như vậy chúng ta tin ngày giờ hay tin nhân quả! Ngày giờ không phải do Phật dạy mà đó là sách Nho thời xưa. Nhân quả mới là giáo lý của Phật dạy. Chúng ta là đệ tử Phật thì phải lấy nhân quả làm căn bản tu hành, không nên lệ thuộc vào sách vở thời xưa, những tập tục cũ để lại. Nếu chúng ta theo những thứđó là chúng ta mê tín. Mê tín tức là lòng tin u tối không sáng suốt, không phải là đệ tử Phật. Chúng ta tu theo Phật thì phải tin nhân quả. Tại sao? Vì nhân quả xây dựng cho chúng ta một nền tảng tự tín rất vững chắc. Trong nhà Phật thường nói, tất cả các khổ không phải bỗng dưng nó đến mà đều có nguyên nhân. Từ cái nhân trước hoặc gần hoặc xa, chúng ta đã tạo nên ngày nay quả báo đến chúng ta phải chịu. Thí dụ quý vị làm nghề nông, gieo giống lúa thì thu hoạch lúa, gieo giống nếp thì thu hoạch được nếp. Gieo giống nào sẽ có quả giống ấy theo ý muốn của mình. Như vậy tùy theo nhân chúng ta đã gieo mà kết quả sẽ đến. Tuy nhiên, không phải nhân quả chỉ có một chiều mà rất tế nhị. Kết quả không phải từ ai cho hay từ đâu đến mà chính là công phu tạo nhân của chính mình, mình tạo nhân nên mình hưởng quả, đó là lẽ thật. Tất cả mọi việc đều do công của chúng ta, chúng ta săn sóc thì sẽ có kết quả như sự mong cầu của chúng ta, chứ không phải bỗng dưng ai đem lại cho, vì điều đó mình muốn, mình tạo thì mình được. Như vậy, nhân quả dạy cho chúng ta tạo lấy nhân tốt để hưởng quả tốt, còn gieo nhân xấu thì bị khổ. Vui hay khổ đều do nơi mình tự tạo. Như vậy mọi sự khổ vui trên đời mà chúng ta gặp phải, không nên đổ thừa người này, trách móc kẻ kia mà chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm, vì nhân chúng ta đã gây thì quả chúng ta phải chịu. Hiểu được lý nhân quả, chúng ta có sức tự tín phi thường, bởi vì chúng ta có đủ điều kiện làm cho mình tốt, hay đủ điều kiện làm cho mình xấu. Vậy tốt xấu gốc từ mình, không phải do lực nào bên ngoài. Thí dụ, quý Phật tử đi ra đường thấy một người bị tai nạn té xe khổ, không ai đỡ, không ai cứu. Chúng ta cứu đưa họ đến bệnh viện, săn sóc cho họ được yên ổn. Chúng ta thấy người bị tai nạn, tự lòng mình khởi niệm thương xót nên cứu giúp họ, đưa tới bệnh viện. Lúc đó đức Phật có nói nho nhỏ bên tai ta "ngươi phải đỡ, phải chở người đó đến bệnh viện"? Chắc không có. Do tự tâm chúng ta khởi lòng thương, cứu người. Chúng ta giúp người đó mà không cầu người biết ơn, đền ơn. Bất ngờ khi chúng ta gặp lại họ, tự nhiên họ rất mừng vì biết rằng đây là ân nhân đã cứu mình nên người ấy vui mừng, chúng ta vui theo. Vậy niềm vui đó từ đâu ra? Từ mình chớ đâu phải Trời, Phật nào ban cho. Ngược lại nếu quý vị ra chợ mua hàng, gặp người bán hàng quạu quọ, cự với mình. Mình nổi tức lên cự lại với họ. Khi nổi tức lên gây gổ với nhau, quý vị nghĩ lúc đó có Phật xúi mình không? Hay là cái sân xúi mình? Từ sự chưởi bới đánh nhau đưa tới các thứ khó khăn khác như bị bắt bớ v. v… Khổ đó ai làm cho quý vị, ai xúi quý vị, ai mang đến cho quý vị? Tất cả đều do sân giận của mình làm ra, nó đẩy mình tạo tội, thọ khổ. Như vậy, tạo nhân lành đưa đến quả vui, tạo nhân dữ đưa đến quả khổ đều do chính mình, không ai chen vào đó cả. Khi gặp khổ, vui chúng ta nên đổ thừa tại Trời khiến, Phật định hay phải biết đây chính là do chúng ta thiếu tu nên gặp quả khổ, hoặc chúng ta khéo tu nên gặp quả vui? Chúng ta đổ thừa cho người hay phải nhận lấy trách nhiệm về mình? Hiểu như vậy, tin như vậy là chúng ta tin ai? Mình là chủ nhân đem cái vui, cái khổ đến cho mình. Đó là lý nhân quả hết sức cụ thể. Chúng ta tu theo đạo Phật phải hiểu sâu, tin chắc lý nhân quả như vậy, chúng ta ứng dụng cho cuộc đời, không phiền hà ai, không oán hận ai, chỉ quay lại mình để chuyển hướng. Nếu từ nhỏ tới lớn chúng ta chưa gây điều gì ác mà gặp khổ nhiều thì biết cái nhân đời trước đã tạo, nên ngày nay tuy chưa làm khổ người khác mà khổ vẫn đến với chúng ta. Nên chúng ta hoan hỷ chấp nhận, không oán trời trách đất, đó là biết ứng dụng lý nhân quả. Ngược lại đời này chúng ta không làm lành, làm phước mà được ở trong cảnh sung sướng, giàu sang, chúng ta cũng không tự hào ngã mạn vì biết rằng đây là phước đời trước, chúng ta cũng đã có tu. Tuy được phước lành nhưng nếu không khéo tu, không biết làm lành nữa thì phước sẽ hết, sau sẽ khổ. Nên không có tâm ngạo mạn khinh người. Người Phật tử biết ứng dụng nhân quả tu là người rất tự do, vì biết rõ khổ vui đều do mình nên không oán trách, cũng không phí phạm, luôn có tâm khiêm nhường, không ngạo nghễ kiêu mạn. Đó là một đức tánh tốt, vì chúng ta hiểu được lý nhân quả và biết ứng dụng trong cuộc sống. Kế đến tôi nói về nghiệp báo. Phật dạy chúng ta bị nghiệp dẫn đi trong đường khổ hoặc trong đường vui, đó là gốc do xưa kia chúng ta đã gây tạo. Thí dụ như những người uống rượu. Ngày nào họ cũng vào quán uống rượu, uống như vậy chừng năm bảy tháng thì họ thành người ghiền rượu. Thành người ghiền rượu rồi thì hôm nào không có tiền vào quán họ sẽ khổ sở, chạy mượn người này, người kia để có tiền uống rượu. Đi quán uống rượu đó là nghiệp rượu, đã thành nghiệp rượu là thành nghiệp xấu. Vì nó dẫn mình đi vay mượn có khi sanh trộm cắp. Khi đã thành nghiệp ghiền rồi rất khó bỏ, thiếu nó không chịu nổi, nên dễ sanh những thói xấu, những điều bậy. Ngược lại một người mỗi tháng vào ngày rằm, ngày ba mươi đi chùa, tụng kinh, sám hối. Tháng nào cũng vậy, giả sử có tháng nào bận việc không đi được, người ấy thấy buồn. Như vậy đi chùa, tụng kinh, sám hối cũng là nghiệp mà là nghiệp lành. Vì vậy thiếu cũng thấy buồn nhưng buồn nhè nhẹ thôi. Còn nghiệp rượu là nghiệp dữ nên nó hành ghê gớm lắm. Biết bao trường hợp vì rượu mà trong nhà gây gổ, cãi lộn v. v… Do đó chúng ta thấy nghiệp lành dẫn chúng ta tới chỗ lành, nghiệp dữ dẫn chúng ta tới chỗ dữ. Người thích uống rượu thì đi tới quán rượu, người thích đi chùa thì tới chùa. Nghiệp là một thói quen do chúng ta gây ra, chớ không phải Trời, Phật xui khiến. Xét trên lý nhân quả của đạo Phật, rõ ràng chúng ta tự do hoàn toàn, tự do tạo khổ, tự do tạo vui, chứ không phải Phật, không phải ai hết. Như vậy chúng ta phải có đức tự tín mãnh liệt vì chúng ta có đủ thẩm quyền làm cho mình khổ hay làm cho mình vui. Một xã hội mọi người dân đều có đức tự tín như vậy thì xã hội đó mạnh hay yếu? Xã hội đó là xã hội tiến bộ, vì mọi người đều biết cái gì cũng gốc từ mình thì mình phải nỗ lực, phải cố gắng xây dựng điều tốt, dẹp bỏ thói xấu, nhờ vậy xã hội trở thành đẹp đẽ, văn minh. Hiểu được ý nghĩa nhân quả, nghiệp báo của đạo Phật, chúng ta đủ điều kiện xây dựng cho xã hội mình ngày càng đẹp đẽ, càng phú cường hơn. Đây là điều hết sức quan trọng. Đó là tôi mới nói tin vào nhân quả nghiệp báo, còn một niềm tin đặc biệt nữa mà tất cả người Phật tử ai cũng phải cố gắng, phải nhớ. Đó là chúng ta tu theo Phật, chúng ta có tin mình sẽ thành Phật không? Gần đây có nhiều Phật tử nói: "Con tu không mong gì hết, chỉ mong niệm Phật đến khi chết, Phật cho con về bển làm tôi tớ của Phật là được rồi". Nghe thật là dễ thương nhưng đó là người thiếu đức tự tín lớn lao. Tại sao? Bởi vì đức Phật dạy chúng ta tu là để thành Phật, chớ không phải dạy cho chúng ta tu để làm tôi tớ cho Phật, mà chúng ta đòi làm tôi tớ chớ không thích làm Phật. Vậy thì nguyện ước của chúng ta quá nhẹ, quá yếu phải không? Tại sao chúng ta không can đảm, không phát tâm quyết liệt cầu quả Phật.

Quý vị nhớ, Phật là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vô thượng là không có gì trên, Chánh đẳng là chân chánh liên tục, Chánh giác là giác ngộ đúng đắn. Giác ngộ đúng đắn liên tục không ngừng, không cách khoảng là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ở đây tôi muốn nói chữ Vô thượng, lẽ ra phải tôn xưng Phật là Tối thượng mới phải, vì có ai trên Phật, có ai bằng Phật? Nhưng Phật chỉ gọi Vô thượng nghĩa là không trên, không trên nhưng có người bằng. Vì vậy nên Phật nói: "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành". Sẽ thành, nghĩa là bằng Phật nhưng không trên Phật, vì giác ngộ tới đó tức là viên mãn, không còn gì trên nữa. Phật dạy chúng ta tu theo Phật cốt là để thành Phật. Cho nên trong Phát Bồ-đề Tâm Văn dạy: Người tu Phật chỉ làm lành, tu Thập thiện mà không phát tâm Bồ-đề thì sau này có thể lạc vào đường tà hoặc làm Ma vương. Nghe vậy chắc quý vị thấy lạ. Bởi vì Phật là một vị giác ngộ viên mãn, chúng ta tu theo Phật thì cũng cốt giác ngộ viên mãn. Không phải giác ngộ viên mãn chỉ dành riêng cho Phật, còn chúng ta vô phần. Tu theo Phật là để giác ngộ viên mãn, nên phát nguyện như vậy thì khỏi rơi vào đường tà. Tại sao? Vì chúng ta đâu phải tu một đời mà được giác ngộ viên mãn, đời này chúng ta giác được phần nào hay phần đó, đời sau tiếp tục cho đến ngày viên mãn. Nếu chúng ta không phát nguyện đời đời, kiếp kiếp tiến tu thì có khi nửa chừng do phước đức tu Thập thiện và làm những điều lành khác, được sanh các cõi lành, gặp hoàn cảnh sung sướng chúng ta quên. Đã quên thì có thể lạc vào đường tà hay lạc vào Ma vương. Cho nên mình tu theo Phật, lúc nào cũng phải phát nguyện đạt đến quả vị Phật, chớ không mong quả vị nào khác. Bao lâu cũng được, không hạn cuộc thời gian, đời này chưa rồi thì đời sau; đời sau chưa rồi thì đời sau nữa. Bởi vì chết không phải là mất, không phải là hết. Chúng ta không sợ chết, chỉ sợ bản nguyện, chỉ sợ hành động của chúng ta không đúng thôi. Nếu chúng ta có bản nguyện chân chính, quyết liệt và hành động luôn luôn liên tục không ngừng, thì con đường thành Phật nhất định sẽ đến. Cho nên chúng ta phải tin khẳng định là chúng ta tu theo Phật, chúng ta sẽ thành Phật. Ngày xưa đức Phật sanh trong gia đình vua chúa, lớn lên có vợ con sau thức tỉnh đi tu. Như vậy Phật có khác chúng ta không? Có cha, có mẹ, có cả gia đình nữa. Ngài cũng là người thế tục như chúng ta, nhưng Ngài thức tỉnh đi tu và giác ngộ thành Phật. Chúng ta bây giờ có phải là người thế tục như Ngài không? Ngài là con người thức tỉnh đi tu thành Phật, thì chúng ta là con người thức tỉnh đi tu cũng sẽ thành Phật. Việc ấy tôi khẳng định quả quyết như vậy, không nghi ngờ. Nếu nói Ngài từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất vọt lên nên Ngài tu được, còn chúng ta là con người bình thường nên tu không được thì hợp lý. Đằng này Phật cũng là con người, chỉ khác là Ngài thức tỉnh sớm nên Ngài đi tu và được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là một con người, nếu thức tỉnh, chúng ta tu cũng sẽ thành Phật. Đó là lý do thứ nhất để chúng ta tin rằng chúng ta tu sẽ được thành Phật. Lý do thứ hai, Ngài dạy rằng tất cả chúng sanh ai ai cũng có Phật tánh. Phật có và Ngài khai thác được nên Ngài giác ngộ. Chúng ta có nhưng chưa khai thác được nên chúng ta còn mê, còn làm chúng sanh. Tôi thí dụ, cha mẹ giàu khi mất để của quý chia cho các con. Trong đó có những người con lớn khôn, biết đem số của được chia, đi bán tạo vốn làm ăn nên thành giàu sang. Còn người nhỏ chưa biết đem của quý ra bán nên nghèo thiếu. Tuy nghèo mà có thật nghèo đâu, chỉ vì họ chưa đem ra dùng thôi. Chúng ta cũng vậy, Phật biết khai thác tánh giác nên Ngài thành Phật, Ngài giác ngộ trước. Còn chúng ta cũng có tánh giác nhưng chưa biết khai thác, nên chưa giác ngộ. Tuy chưa giác ngộ nhưng chúng ta không bị mất, tánh giác vẫn còn. Vì vậy nếu chúng ta cố gắng khai thác, tức là tu hành thì chúng ta cũng giác ngộ không nghi ngờ. Trong kinh Pháp Hoa, có thí dụ hệ châu v. v…, gã thanh niên được cột hạt châu trong chéo áo, nhưng vì uống rượu say quá nên quên, đến khi có người chỉ nhắc lại mới nhớ. Như vậy thì biết rằng, nơi chúng ta ai cũng có khả năng thành Phật hết. Đây là lòng tin thứ hai. Lòng tin này rất quan trọng. Lý do thứ ba, Phật dạy tất cả chúng sanh đều có sẵn trí vô sư. Trí vô sư là trí không thầy, đức Phật khi ngồi tu dưới cội Bồ-đề, Ngài không học, không truy tìm, không nghiên cứu, Ngài chỉ định tâm. Khi tâm an định thì bỗng nhiên giác ngộ. Từ sự giác ngộ đó mới thấu suốt được tất cả các pháp, từ con người đến ngoại vật, không trở ngại. Đức Phật có trí vô sư, chúng ta có trí vô sư không? Chúng ta cũng có, chỉ vì hiện giờ nội tâm chúng ta có bao nhiêu thứ vọng tưởng, phiền não tràn đầy, nó che lấp trí vô sư. Khi nào chúng ta định tâm được, hoặc tọa thiền hoặc niệm Phật tới chỗ nhất tâm thì trí vô sư phát ra. Kinh Di Đà gọi đó là thấy Phật và Thánh chúng ở trước mặt. Còn đối với người tu Thiền gọi đó là giác ngộ hay là đại ngộ. Như vậy, trí vô sư là cái sẵn có của tất cả chúng ta, ai ai cũng có chớ không phải riêng người nào. Bằng chứng cụ thể như quý vị thấy ở thế gian hiện nay nhiều nhà bác học nghiên cứu một đề tài gì, họ dồn tâm lực trong đó, những đề tài ấy trước kia chưa ai phát minh. Đến khi họ nghiên cứu tới chỗ quên hết cả vợ con, quên ăn, quên ngủ bỗng nhiên họ sáng lên. Sáng lên đó gọi là phát minh. Nhiều nhà phát minh đã đem lại cho khoa học những thành quả mới, giúp nhân loại được nhiều phương tiện. Đó cũng là do trí vô sư. Tìm tòi nghiên cứu cái nhỏ thì được kết quả nhỏ, nghiên cứu cái lớn thì được kết quả lớn. Người tu của chúng ta nghiên cứu về vấn đề sinh tử của con người, là vấn đề trọng đại. Vì vậy phải ngồi thiền từ năm này qua năm nọ cho tâm tư lóng lặng. Do lóng lặng nên trí vô sư phát ra. Như đức Phật ngày xưa ngồi yên định bốn mươi chín ngày dưới cội Bồ-đề mà chứng được tam minh, lục thông v. v… Chủ yếu người tu Phật ngày nay phải làm sao đem lại cuộc sống chân thật, đem lại con đường đi sáng sủa, đem lại giá trị tu hành cao siêu vượt bậc, chớ không phải là chuyện tầm thường. Bởi vì chúng ta tìm tòi để phát minh một việc trọng đại của kiếp sống con người. Vì vậy tất cả chúng ta phải tin rằng ai cũng có trí vô sư. Chúng ta phải cố gắng dẹp vọng tưởng, dẹp phiền não. Vọng tưởng, phiền não sạch thì trí vô sư hiện ra. Các Thiền sư thường ví dụ tâm ta như một hồ nước. Đêm rằm trên hư không có trăng, nếu hồ nước đục thì trăng không hiện. Chỉ khi nào hồ nước trong thì bóng trăng hiện dưới đáy hồ. Cũng vậy chúng ta tu đến tâm thanh tịnh trong sáng, sẽ tự thấy Phật ở nơi chúng ta chớ không tìm đầu non góc bể nào cả. Bây giờ tâm quý vị có lóng, có trong không hay là đang như những đám mây dày mịt? Hết vọng này đến vọng kia che hoài, bởi che hoài nên nó ngầu đục dơ bẩn. Chỉ khi chúng ta lóng được những thứ đó xuống thì trí sáng suốt của chúng ta bừng lên chớ không có gì lạ, trí ấy chúng ta có sẵn chớ không phải từ đâu ra. Cho nên sự tu trong đạo Phật hết sức thực tiễn, không phải mơ hồ. Giờ đây chúng ta hiểu được đạo Phật, thấy rõ được đạo Phật nên chúng ta phải nỗ lực tinh tấn, ứng dụng theo lời Phật cho tâm thanh tịnh. Ví dụ vị nào chuyên tu niệm Phật thì ráng niệm Phật được nhất tâm bất loạn. Kinh Di Đà Phật nói rất rõ: "… nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật… nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực lạc quốc độ". Nghĩa là: Hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày… cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn. Người ấy khi sắp mạng chung, Phật A Di Đà và Thánh chúng hiện ra ở trước, tâm người ấy không điên đảo, liền được vãng sanh cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà. Hiện giờ Phật tử được nhất tâm chưa hay là thiên tâm, vạn tâm? Bởi vậy mà nói niệm Phật không thấy linh, vì đâu có nhất tâm. Phải nhất tâm, chừng đó mới thấy Phật. Tu Thiền cũng vậy, Thiền mà không định cũng không bao giờ ngộ, không bao giờ giác. Vì vậy phải định, có định mới được giác ngộ. Như vậy đạo Phật dạy không riêng khác, chỗ mục đích cứu kính đều gặp nhau. Chỉ tại chúng ta tu lơ mơ nên thành có khác. Tôi nêu lên những điều này cho quý vị nhận ra cội gốc của đạo Phật, giúp quý vị thấy được con đường tu đúng đắn không bị lầm lẫn mà trở thành mất gốc, trở thành mê tín. Mê tín thì không xứng đáng là Phật tử. Phật tử ở chùa Hoằng Pháp mà mê tín thì người ta nói thầy Hoằng Pháp không khéo dạy đệ tử. Còn nếu đệ tử của tôi mà cứ tin như vậy thì người ta nói tôi không biết dạy đệ tử. Không có đủ lòng tin chánh pháp, chẳng những quý vị có lỗi mà còn gây tiếng không tốt cho những bậc thầy của mình. Cho nên quý vị phải can đảm, biết sai phải sửa bỏ, chớ đừng nắm níu, đừng sợ. Điều sai, chúng ta biết rõ nó sai thì chúng ta sửa liền. Điều đúng, chúng ta biết đúng thì phải thực hành ngay. Đó là người Phật tử chân chánh. Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin nhắc lại cho quý vị Phật tử nhớ: – Đạo Phật là đạo dạy cho chúng ta đầy đủ lòng tự tín. Chúng ta tu theo Phật là tin chắc nơi mình. Mình có quyền tạo cái vui, mình có quyền gây cái khổ. Khổ vui do chính mình, chớ không ai đem đến cho mình. Hiểu như vậy là có đức tự tín. – Chúng ta có đủ khả năng thành Phật. Phật là con người, chúng ta là con người. Phật có tánh giác, chúng ta cũng có tánh giác. Nếu chúng ta quyết tâm tu rồi cũng sẽ thành Phật, không nghi ngờ. Như vậy, tất cả chúng ta ai có đủ ý chí quyết liệt tu hành thì trên đường tu nhất định chúng ta sẽ thành công. – Có đủ ý chí quyết liệt rồi thì đối với xã hội, đối với hoàn cảnh đất nước của mình đang nghèo, chúng ta cố gắng tạo cho được những nhân tốt thì quả tốt sẽ đến, chúng ta xây dựng một xã hội cố gắng vươn lên. Đó là đem lại sức mạnh cho đất nước, cho xứ sở của mình. Không nên ỷ lại hay trông chờ, không nên sợ sệt những quyền lực vô nghĩa. Chúng ta phải can đảm, phải nhìn thẳng, phải thấy đúng. Như vậy mới thật là người Phật tử chân chánh, mới thật là người biết đạo; bằng ngược lại chúng ta tu theo Phật chỉ có danh tự, chớ thực chất không có gì cả. Vậy mong rằng tất cả quý Phật tử nghe tôi giảng, xét cho thật kỹ, nếu đúng thì quý vị phải phát tâm quyết liệt thực hành và ứng dụng tu cho có kết quả. Đó là chỗ mong đợi của chúng tôi.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 82: Chỉ nên tìm lỗi mình mà sửa đổi

Biết Được Lỗi Mình Mới Khó

Dễ thấy thấy lỗi người

Lỗi mình biết mới khó

Lỗi người ta phanh tìm

Như tìm thóc trong gạo.

Còn lỗi mình che đậy

Như kẻ gian giấu bài.

Bình:

Dễ thấy lỗi người việc ấy không khó, chỉ cần nhìn sơ qua là mình thấy người đó có lỗi rồi. “Vạch lá tìm sâu, quét nhà ra rác” điều này quá rõ ràng. Thấy lỗi người không khó.

Thấy lỗi mình mới thật là khó. Vì thông thường mình vốn thương mình, thì có bao giờ mình chịu cho mình là xấu (có lỗi thì thành xấu), vậy nên có mấy người chịu trở lại tìm lỗi mình, mặt mình dính lọ thì có bao giờ mình thấy, nếu không có người chỉ, không biết xem gương.

Vậy đó mà với lỗi người thì ta phanh tìm không bỏ sót. Người ta có giấu mình cũng phải tìm bươi móc cho ra. Việc này giống như việc lượm thóc trong gạo. Gầm đầu lượm từng hạt, lượm thật kỹ. Cái tật này gần như muôn đời ở một con người. Đó là gần như bản chất, một thứ bản chất xấu xa tồi bại. Nó được coi là rất trái với thánh đạo.

Ngược lại, với lỗi mình thì bưng bít, che đậy giống như người cờ gian bạc lận, giấu đi con bài của mình v.v… để phòng thủ thắng kẻ khác. Một sự giấu giếm thật khéo léo thật tinh vi.

Cái tật chúng sanh là như vậy. Mấy ai chịu gan dạ phơi bày lỗi mình.

Đức Phật đã nói như vậy, là trước chỉ cho con người thấy rõ sự lầm lẫn của mình, thấy rõ ngõ ngách của tâm hồn mình. Thấy rồi để mà khéo chừa đi. Là một Sa Môn, một người tu chớ có thấy lệch lạc như vậy. Mà lúc nào người Sa Môn cũng phải biết rõ lỗi của mình đẻ phát lồ sám hối. Phát lồ tức là phơi bày lỗi lầm, không giấu giếm, mà đưa ra trình lên trước đại chúng, nhận khuyết, nhận lỗi cầu xin sám hối.

Ngài Huệ Năng đã dạy: Thường biết lỗi mình, chớ biết lỗi thế gian.

Tu là cốt để biết rõ mình. Muốn biết rõ mình phải “biết lỗi” mình. Tu mà không biết lỗi mình thì không bao giờ tu tiến được. Những lỗi hiện đời và lỗi từ vô thủy, biết bao lỗi, thế mà không biết, thì sao gọi là tu? Tu là sửa. Sửa là sửa lỗi. Sửa lỗi thành không còn lỗi nữa gọi là tu. Không như vậy, gọi tu là tu làm sao?

Vậy chớ có biết lỗi người. Phải thường biết lỗi mình. Được vậy trong tương quan cuộc sống mình không bị thiên hạ ghét. Mình không nói lỗi người thì ai ghét mình. Và trong việc tu hành, ngày càng tiêu được tội lỗi, nghiệp chướng vơi đi, tâm trí ngày càng sáng thêm. Niềm an vui ngày càng rộng mở. Cuộc sống ngay đó được hạnh phúc. Không cầu mà được.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 83: Tâm bình thường là Đạo

Từ trước tôi thường nói "tâm bình thường là đạo", song chỉ nói tổng quát hoặc nói xa gần để quý vị thầm nhận, chớ không nói thẳng. Hôm nay tôi chỉ thẳng để quý vị thấy và nhận ra để ứng dụng tu hành.

Triệu Châu đến hỏi Ngài Nam Tuyền:

– Thế nào là đạo?

Nam Tuyền đáp:

– Tâm bình thường là đạo.

Triệu Châu hỏi:

– Lại có thể nhằm tiến đến chăng?

Nam Tuyền đáp:

– Nghĩ nhằm tiến đến là trái.

Triệu Châu hỏi:

– Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?

Nam Tuyền đáp:

– Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy.

Ngay đó sư ngộ.

Mọi người tu, ai cũng nghĩ mình phải thấy (ngộ) được đạo, và nghĩ rằng đạo là cái gì cao siêu ở ngoài mình. Triệu Châu cũng có tâm niệm như chúng ta, khi được Ngài Nam Tuyền trả lời "tâm bình thường là đạo", sư chưa đủ sức tin. Vậy, tâm bình thường là tâm nào? Tâm nhớ chuyện năm xưa nghĩ chuyện năm tới có phải là tâm bình thường không? Vừa dấy niệm là động, mà động thì bất bình thường. Tâm bình thường là tâm lặng lẽ sáng suốt, thấy biết rõ ràng, như mặt nước phẳng lặng không gợn sóng. Ngài Nam Tuyền chỉ thẳng: "tâm bình thường là đạo", qua lời chỉ thẳng mà Triệu Châu chưa nhận ra nên hỏi "Lại có thể nhằm tiến đến chăng?". Sư nghĩ tiến để đạt đạo, song, nghĩ tiến đến là bất bình thường, mà bất bình thường thì không phải đạo. Vì vậy, Ngài Nam Tuyền nói: "Nghĩ nhằm tiến đến là trái". Vừa nghĩ tiến đến là động, mà động là bất bình thường nên trái đạo. Nhưng Triệu Châu cũng chưa nhận, bèn hỏi thêm: "Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?" Sư cho đạo là cái gì phải do suy nghĩ mà biết, nay không cho suy nghĩ thì làm sao biết đó là đạo? Ngài Nam Tuyền bảo: "Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang, rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy". Nghĩa là tâm lặng lẽ sáng suốt đó là đạo, vừa dấy niệm muốn biết nó là vọng giác, còn ngu ngơ không biết gì là vô ký, cả hai đều sai. Nếu thực đạt đạo, tức là nhận ra cái lặng lẽ chân thật thì không còn nghi ngờ gì cả, lúc đó tâm rỗng rang thênh thang, không thể nói là phải hay quấy. Vừa nói phải quấy là có niệm hai bên thì trái đạo. Ngay đó Triệu Châu ngộ được "Tâm bình thường là đạo". Tôi đã nói trắng ra quý vị có nhận được không?

Tôi dẫn thêm một Thiền sư khác, Sùng Tín con nhà bán bánh bao, ở trước cổng chùa. Mỗi ngày (sư) đem ít cái bánh cúng dường thiền sư Đạo Ngộ. Đạo Ngộ ăn xong thường để lại một cái bánh bảo:

– Ta cho ngươi ăn để ân huệ cho con cháu.

Một hôm sư tự nghĩ: "Bánh là ta đem đến, cớ sao Hòa Thượng lại cho ngược lại ta? Biết đâu không có ý chỉ. Sư bèn đến hỏi Đạo Ngộ.

Đạo Ngộ bảo:

– Bánh của ông đem đến, ta cho lại ông có lỗi gì?

Sư nghe lời này, hiểu được thâm ý, liền xin xuất gia. Đạo Ngộ bảo:

– Ngươi trước sùng phước thiện, nay tin lời ta, có thể gọi là Sùng Tín.

Từ đây, sư hầu hạ luôn bên thầy, một hôm sư thưa:

– Từ ngày con vào đây đến nay, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.

Đạo Ngộ bảo:

– Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.

Sùng Tín hỏi:

– Thầy chỉ dạy ở chỗ nào?

Đạo Ngộ bảo:

– Ngươi dâng trà lên ta vì ngươi mà tiếp, ngươi bưng cơm đến ta vì ngươi mà nhận, ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?

Sư cúi đầu im lặng giây lâu, Đạo Ngộ bảo:

– Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.

Ngay câu nói đó, sư khai ngộ. Lại hỏi thêm:

– Làm sao gìn giữ?

Đạo Ngộ đáp:

– Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác.

Khi thị giả dâng chung trà, Thầy đưa tay nhận chung trà, lúc đó có suy nghĩ gì không? Thầy đón nhận chung trà mà không có một niệm suy nghĩ, nhưng không phải là không "biết". Khi thị giả dọn cơm xá mời, thì Thầy bước tới ngồi và cầm đủa ăn, lúc đó thế nào? Ngồi ăn cơm Thầy cũng không suy nghĩ. Khi thị giả xá chào lui ra thì Thầy gật đầu, lúc gật đầu Thầy cũng không suy nghĩ. Như vậy, trong những động tác hằng ngày mà chúng ta không khởi một niệm nghĩ suy, đó là tâm yếu. Tâm yếu hiện hữu rõ ràng trong mọi hành động, nếu nhận được chỗ đó thì chỗ nào không chỉ không dạy tâm yếu? Vậy, tâm yếu mà Đạo Ngộ chỉ đây có khác với tâm bình thường mà Ngài Nam Tuyền chỉ ở trước không? Tuy nhiên, ở đây đặc biệt là khi Sùng Tín cúi đầu suy nghĩ về tâm yếu thì Đạo Ngộ chỉ thẳng: "Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai". Trong những hành động bình thường, ngay đó mà nhận ra cái chân thật sẵn có nơi mình, vừa khởi nghĩ nó liền bị che khuất. Ngay khi đó Sư khai ngộ. Chúng ta thấy tâm yếu là gì rồi phải không? Và khi ngộ rồi, muốn gìn giữ nó phải làm sao? Đó là vấn đề then chốt. Được Ngài Đạo Ngộ dạy:

"Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác". Mặc tánh tiêu dao ở đây không có nghĩa rỗi rảnh thân dạo chơi chỗ này xứ nọ tùy hứng đờn ca, thổi sáo, ngâm vịnh… Người như thế là cuồng tăng phóng túng. Ngài Đạo Ngộ dạy tùy tánh tiêu dao, chứ không phải tùy thân tiêu dao, phải hiểu rõ chỗ này. Vậy, tánh tiêu dao là thế nào? Tánh thấy tánh nghe… có sẵn nơi mỗi người vốn không động, không giới hạn; bởi không động, không giới hạn nên nó rỗng rang thênh thang. Và vì thênh thang không động không phiền cứ mặc nó, không kềm không giữ là mặc tánh tiêu dao. Lâu nay chúng ta tu nghĩ là phải kềm giữ cho tâm thanh tịnh; nếu kềm giữ là trái với tự tánh rồi. "Tùy duyên phóng khoáng" là duyên đến thì tùy duyên bất biến không vướng không bận, không bị duyên trần làm phiền nhiễu. Sơ Tổ phái Trúc Lâm nói:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc san hề khốn tắc miên

Ở trong cõi đời mà vui với đạo, tức là vui với tâm bình thường, rồi tùy duyên đói thì ăn mệt thì ngủ. Tùy duyên phóng khoáng là trong cuộc sống bình thường đến giờ ăn thì ăn, đến giờ làm việc thì làm việc, đến giờ ngủ thì ngủ… không có vọng niệm làm bận lòng, tâm an nhiên thênh thang tự tại. Ví dụ quét chùa hay nhổ cỏ mà tâm vẫn thênh thang rỗng rang không có một niệm dấy khởi đó là tùy duyên phóng khoáng. Chớ không phải tùy duyên phóng khoáng là đói vào quán ăn, ăn nhậu say sưa, mệt thì nằm ì ngoài đường phố mà ngủ, gặp nữ sắc cũng không kỵ, gặp ca vũ cũng không chừa… Đó là cuồng tăng cuồng thiền, hiểu lầm hiểu loạn, không đúng lẽ thật, làm cho người chê cười, làm cho người mất hết tín tâm. Những trọng điểm này quý vị lưu ý để nắm vững mà tu, nếu hiểu lầm một chút thì họa. Tôi nhắc lại, tánh giác nơi mỗi người vốn lặng lẽ thênh thang sáng suốt, hằng ngày sống bình thường, đến giờ làm việc thì làm việc, đến giờ ăn thì ăn, đến giờ nghỉ thì nghỉ… không khởi niệm, không kềm, không giữ, tuy nhiên, vẫn ở trong nề nếp đạo đức. Đó là mặc tánh tiêu dao tùy duyên phóng khoáng, cũng như Ngài Nam Tuyền người dâng trà thì tiếp trà, dâng cơm thì nhận cơm, xá chào thì gật đầu, buông hết vọng tưởng điên đảo của phàm phu, đó là đạo. Thông thường, người tu hành chưa hài lòng với nếp sống bình thường như đã nói mà mong có cái gì phi thường, khác lạ của bậc Thánh, muốn thấy hào quang, muốn biết quá khứ vị lai… Đó là bệnh, nên Ngài dạy "chỉ hết tâm phàm, chẳng có Thánh giải khác" khi vọng tưởng điên đảo sạch rồi thì ngang đó là Thánh, chớ không có Thánh ở ngoài đến. Tức là dừng được tình phàm, là vọng tưởng chủ của nghiệp là nhơn luân hồi sanh tử thì giải thoát, vì không sanh không diệt nhưng hằng tri hằng giác không phải Thánh là gì? Có nhiều người nghi sau khi vọng tưởng lặng hết thì còn cái gì? Chỉ cần hết vọng tưởng thì tánh giác hiện tiền không cần thêm gì nữa cả. Nhưng chẳng mấy người có đủ lòng tin.

Đa số đều mong hết phiền não để có thêm cái gì khác, không ngờ hết tình phàm (vọng tưởng) thì ngay đó là Thánh. Vì mầm sanh tử luân hồi hết thì đó là đạo là giải thoát, là chỗ thiết yếu mà Ngài Đạo Ngộ đã chỉ dạy.

Ngài Triệu Châu ngộ đạo nơi Ngài Nam Tuyền, ngộ ngay chỗ "tâm bình thường là đạo" nên sau này Ngài cũng dạy như thế.

Có vị tăng hỏi:

– Thế nào là Phật?

Sư bảo:

– Ở trong điện.

– Trong điện đâu phải bùn đất đắp thành tượng?

– Phải.

– Thế nào là Phật?

– Ở trong điện.

– Con mê muội xin thầy chỉ dạy.

– Ăn cháo xong chưa?

– Ăn cháo xong.

– Rửa bát đi!

Tăng nhơn đây đại ngộ.

Tăng muốn biết "thế nào là Phật", được Ngài Triệu Châu chỉ "ở trong điện". Ngài chỉ Phật tánh không rời thân năm uẩn (ở trong điện) thế mà tăng không nhận ra, khởi tâm so lường. Phật ở trong điện được đắp bằng bùn đất, chỉ là tượng vô tri để thờ, không phải là Phật mà tăng muốn biết. Ngài Triệu Châu nói "phải" là Ngài xác định nơi thân năm uẩn có tánh giác chớ không phải tượng Phật trên bàn. Thế mà tăng không hội lập lại câu hỏi "thế nào là Phật?". Ngài vẫn đáp "ở trong điện". Tăng vẫn không hội, bèn thưa: "Con mê muội xin thầy chỉ dạy". Ngài hỏi: "Aên cháo chưa?" Tăng đáp: "Aên cháo xong". Ngài bảo: "rửa bát đi". Tăng nhơn đây mơi đại ngộ. Vậy, tăng ngộ cái gì? Cái ngộ của vị tăng này có khác với cái ngộ của Ngài Sùng Tín không? Ở trước, dâng trà thì tiếp, dâng cơm thì nhận, xá lui ra thì gật đầu, ở đây ăn cháo xong thì rửa bát. Có phải thân thì tùy duyên sinh hoạt mà hành động, tuy nhiên tâm vẫn bình thường? Chư Tổ chỉ dạy nhau là chỉ dạy cái mà chính mình đã nhận được từ nơi thầy là "Tâm bình thường", song mỗi vị có mỗi thuật độc đáo riêng, người căn cơ thấp kém khó mà biết được. Tại sao hỏi "ăn cháo chưa?" rồi bảo "rửa bát đi" mà lại ngộ đạo, vậy đạo ở chỗ nào?

Sau, thiền sư Hoàng Trí có làm tụng để ca ngợi chỗ này:

Chúc bãi linh giao tẩy bát bồn

Hoát nhiên tâm địa tự tương phù

Như kim tham bảo tùng lâm khách

Thả đạo kỳ gian hữu ngộ vô.

Dịch:

Cháo xong liền dạy rửa chén tô,

Bỗng nhiên tâm địa tự tương phù

Hiện nay là khách tùng lâm cũ

Hãy nói khoảng này có ngộ không?

Thật là xuất cách, người vào đạo với tâm thao thức thiết tha cầu Phật, nên khi hỏi "ăn cháo xong chưa?" Thưa "ăn cháo xong" bảo "rửa bát đi", liền ngộ đạo. Nếu là người không thao thức thiết tha cầu Phật, dù có dùng phương tiện thiện xảo thế mấy để chỉ, cũng vẫn là kẻ dung thường không thấy được lý đạo. Aên cháo, rửa bát có phải là bình thường mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng không? Nếu thông đoạn trước đến đây chúng ta không thấy lạ.

Ngài Động Sơn Thủ Sơ, khi còn là một Thiền khách, đến tham vấn nơi Ngài Vân Môn, Ngài Vân Môn hỏi:

– Ông vừa rời chỗ nào?

Thủ Sơ thưa:

– Rời Tra Độ.

Vân Môn hỏi:

– Mùa hạ rồi ở đâu?

Thủ Sơ đáp:

– Ở chùa Báo Ân tại Hồ Nam.

Vân Môn hỏi:

– Rời nơi ấy lúc nào?

Thủ Sơ đáp:

– Ngày 25 tháng 8.

Vân môn bảo:

– Tha ông ba gậy, đến nhà tham thiền đi.

Được hỏi, Thủ Sơ đáp một cách thật thà, không một chút điêu ngoa, tại sao Ngài Vân Môn nói "tha ông ba gậy" rồi bảo xuống nhà thiền? Thủ Sơ có lỗi gì?

Thủ Sơ thắc mắc, hôm sau đi thẳng vào thất Ngài Vân Môn thưa:

– Hôm qua nhờ ơn Hòa Thượng tha ba gậy, con không biết lỗi tại chỗ nào?

Vân Môn bảo:

– Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam liền thế ấy!

Ngay câu nói này sư đại ngộ.

Vân Môn quở Thủ Sơ là cái túi cơm. Giang Tây là chỗ hoằng hóa của Mã Tổ, Hồ Nam là chỗ hoằng hóa của Thạch Đầu. "Liền thế ấy" là sao?

Hỏi "ở đâu", thưa "ở Tra Độ" hỏi "mùa hạ rồi ở đâu", thưa "ở chùa Báo Aân tại Hồ Nam". Hỏi "rời nơi ấy lúc nào?". Thưa "ngày 25 tháng 8". Sự việc ấy có phải là bình thường không? Hỏi đâu đáp đó rõ ràng, không suy nghĩ không phải tâm bình thường là gì? Ngài Vân Môn muốn làm dậy sóng nên nói "tha ông ba gậy". Thuật khai ngộ của Ngài Vân Môn quá kỳ đặc, ngài nói "tha ông ba gậy" làm cho Thủ Sơ băn khoăn thắc mắc không biết mình có lỗi ở chỗ nào, nên hôm sau Thủ Sơ đến phương trượng hỏi, khi hỏi bị quở "cái túi cơm!" Ngài Vân Môn chê Thủ Sơ không thông minh giống như cái túi cơm vậy. Mã Tổ (Giang Tây) Thạch Đầu (Hồ Nam) cũng đều chỉ dạy cái bình thường ấy thôi. Ngay đó Thủ Sơ ngộ đạo. Qua câu chuyện, không ai khỏi ngạc nhiên chỗ "tha ông ba gậy". Chính nhờ cái thuật làm dậy sóng đó của Ngài Vân Môn mà Thủ Sơ mới nhận ra cái "chân thật bình thường" sẵn có nơi chính mình. Các thiền sư đâu có dạy điều gì khác, các Ngài chỉ thẳng cái chân thật cho chúng ta là trong mọi sinh hoạt không dấy niệm nghĩ suy là đạo, là tâm bình thường, là Phật. Vậy, có người nào không có cái đó? Ai cũng có mà không dám nhận! Sa di Cao hầu chuyện với Ngài Dược Sơn, qua những câu đáp, Ngài biết đó là một sa di xuất cách, nên mới khoe với các đồ đệ lớn như Vân Nham, Đạo Ngộ. Hai vị này tỏ vẻ chưa tin, nên Ngài mới hỏi lại Sa di Cao:

– Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?

Sư thưa:

– Nước con an ổn.

Dược Sơn hỏi thêm:

– Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?

Sư đáp:

– Chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.

Dược Sơn hỏi:

– Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi sao chẳng được?

Sư đáp:

– Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.

Ngài Dược Sơn nói: "Ta nghe ở Trường An (thủ đô nhà Đường) rất náo loạn, ngươi có biết chăng? Sa di Cao trả lời "nước con an ổn". NGHE tiếng động bên ngoài ồn ào là náo. THẤY kẻ qua người lại lộn xộn là loạn. Khi hỏi: "Ta nghe Trường An náo loạn ngươi có biết chăng?" Ngài Dược Sơn muốn hỏi Sa di Cao có thấy có nghe sự náo loạn bên ngoài không? Đó là cái bẩy dọ dẫm coi sư đang chạy theo cảnh bên ngoài hay hằng sống với tánh thấy tánh nghe chân thật của mình. Sa di Cao trả lời "nước con an ổn". Người qua lại xôn xao mà tánh thấy của Sa di Cao không xôn xao; tiếng động ồn ào mà tánh nghe của Sa Di Cao không ồn ào. Náo loạn là chuyện bên ngoài chớ tánh thấy tánh nghe của sư không động không loạn. Sư trả lời như thế chứng tỏ rằng Sư hằng nhớ cái chẳng động của mình mà không để tâm chạy theo ngoại trần. Nếu được hỏi "có nghe náo loạn không?". Trả lời "có nghe náo loạn" là người đã để tâm duyên theo cảnh vật bên ngoài mà quên cái không động hằng hiện hữu nơi chính mình. Như vậy, để thấy người xưa muốn trắc nghiệm xem người tham học còn vọng ra ngoại trần hay hằng sống với cái chân thật của chính mình, chỉ nêu câu hỏi, qua câu trả lời thì biết người ấy thế nào. Qua câu trả lời của Sa di Cao, Dược Sơn chấp nhận ngay. Tuy thế, Vân Nham và Đạo Ngộ vẫn chưa tin, ngài Dược Sơn mới trắc nghiệm thêm: "Ngươi do xem kinh được hay do thưa hỏi được?". Sa di Cao đáp: "Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được". Nếu trả lời do xem kinh hay do thầy chỉ bảo thì cái đó từ bên ngoài mà được. Tánh thấy tánh nghe là cái chân thật có sẵn nơi mỗi người, đâu đợi xem kinh mới có hay do thầy dạy mới được. Nên Sư trả lời "chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được". Mới nghe qua như phủ nhận công ơn chỉ dạy của Thầy Tổ. Nhưng lẽ thực là như vậy. Thầy Tổ chỉ là người khơi dậy đánh thức để chúng ta xoay lại nhận ra cái chân thật đã có sẵn mà từ lâu nay chúng ta bỏ quên. Ngài Dược Sơn hỏi tiếp: "có lắm người chẳng xem kinh chẳng thưa hỏi sao chẳng được?". Để xác định lần nữa, Ngài Dược Sơn bẻ lại: "ông nói chẳng do xem kinh chẳng do thưa hỏi mà được, vậy biết bao người không xem kinh không thưa hỏi sao chẳng được?" Sư đáp: "Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận thôi". Ai cũng có sẵn cái tánh biết chân thật, mà vì không chịu nhận nên coi như không được. Được hay không được là do biết thừa nhận hay không thừa nhận; nếu biết thừa nhận thì tự tại giải thoát, còn không thừa nhận thì chạy theo ngoại cảnh phiền não khổ đau đi mãi trong luân hồi sanh tử.

Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay tôi dẫn chuyện ngài Tử Hồ bắt ăn trộm, chuyện này rất lý thú nên tôi hay kể, mỗi lần kể là mỗi lần mới. Trong pháp hội của ngài Tử Hồ có trên 500 tăng chúng. Một hôm, giữa đêm bỗng ngài la to:

– Ăn trộm, ăn trộm.

Chúng kéo nhau chạy đến, ngài chụp ôm vị tăng đến đầu tiên nói:

– Bắt được rồi, bắt được rồi.

Vị Tăng bị bắt hoảng hốt thưa:

– Dạ con, không phải, không phải.

Ngài nói:

– Phải, phải, chỉ tại ông không dám nhận thôi.

Trong pháp hội cả 500 người ai cũng có cái chân thật mà không dám nhận, buộc lòng ngài phải dùng phương tiện kỳ đặc chụp ôm một vị tăng la to là ăn trộm. Tăng đính chính: "Dạ con, chớ không phải ăn trộm". Ngài nói: "Phải, phải, chỉ tại ông không dám nhận thôi". Tăng nói "Không phải" là không phải ăn trộm. Ngài nói: "phải, phải" là chỉ cho mọi người ai cũng có sẵn tánh giác chân thật. Trò nói "không phải", thầy nói "phải, phải", nghe như cùng đối đáp nhau, nhưng ý hai bên thật là khác xa muôn dặm. Hình ảnh thầy chụp trò nói là "ăn trộm", trò đính chính: "dạ con, không phải ăn trộm". Thầy lại khẳng định: "phải, phải, tại ngươi không dám nhận". Thật thủ thuật quá kỳ đặc nói lên lòng từ bi đáo để bao giờ chúng ta quên được!

Chư Tổ xưa dùng nhiều phương tiện kỳ đặc, để chỉ cho người học đạo nhận ra tánh giác chân thật sẵn có mà từ lâu tự bỏ quên. Riêng tôi không có phương tiện thiện xảo, nên mới dẫn chuyện của người xưa để nhắc cho qúy vị nhớ và nhận ra cái chân thật của mình, hầu thoát ly sanh tử dứt khổ đau.

Qua những câu chuyện mà tôi vừa dẫn giải, nếu qúy vị nhận được tánh giác chân thật nơi chính mình, quý nó như hạt minh châu vô giá, thì lời dẫn giải của tôi hôm nay là hữu ích, tức là tôi là kẻ có công. Nếu quý vị không nhận được hay nhận được mà xem thường, cho rằng ai ai cũng có, thì có gì quan trọng rồi vẫn cứ sống buông trôi theo dục lạc đi mãi trong luân hồi sanh tử thì tôi là kẻ có tội. Vì muốn cho quý vị có đủ lòng tin mà tiến tu để trở thành người hữu dụng, nên tôi không ngại rụng hết lông mày vì qúy vị mà chỉ thẳng.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 84: Bảy điều quán chiếu hạnh phúc

1/ Ta đang còn sống
2/ Ta có sức khỏe
3/ Ta có đủ sáu căn
4/ Ta có tự do
5/ Ta có tiện nghi vật chất
6/ Ta có tình thương
7/ Ta có sự hiểu biết

1●Ta đang còn sống
Trên đời này quý nhất là sự sống. Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ? Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống. Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần.
Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.

2●Ta có sức khỏe
Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v… Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ. Bệnh nặng như ung thư hay AIDS phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục. Bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc. Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.

3● Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)
Có người đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v… Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì ! Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ? Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem. Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn. Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.
Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

4● Ta có tự do
Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. Bởi vì theo giáo lý, tất cả chúng ta đều là tù nhân của ba cõi sáu đường. Chỉ khi nào thoát khỏi sinh tử luân hồi mới thực sự là tự do.
Hiện tại bạn có đang ở tù không ? Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ? Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không ? Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không?.
Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v… Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không ? Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.

5●Ta có tiện nghi vật chất
Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v… Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm, tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ. Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người. Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ? Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ? Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ. Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

6●Ta có tình thương
Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai. Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh. Bản chất của tâm (tim) là thương yêu. Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác. Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng.
Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

7●Ta có sự hiểu biết
Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. Không kể người khùng điên mất trí, hoặc bị bệnh tâm thần mà ngay cả những người bình thường cũng chưa chắc có sự hiểu biết về nhân quả và đạo đức. Đầu óc ta còn sáng suốt, không điên khùng mất trí, lại gặp được Phật pháp, học hiểu giáo lý nhân quả- giải thoát, đó là một duyên lành hy hữu trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được.

Nếu quán chiếu những điều trên chưa đủ để cho bạn hạnh phúc thì bạn cần phải đi vào cuộc đời để tiếp xúc với người sắp chết, người bệnh để thấy họ khổ ra sao, tiếp xúc với người tàn tật, người tù, người ăn xin, người cô đơn, người ngu cố chấp thì may ra nó sẽ giúp bạn tỉnh ngộ thấy mình hạnh phúc

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 85: Xuân miên viễn

Chuyện này không có gì khó, chỉ chịu lắng tâm thì sẽ biết. Khi dấy niệm nghĩ suy chúng ta nói là tâm mình, vì chấp tâm là cái nghĩ suy. Nhưng khi không khởi niệm nghĩ suy mắt vẫn thấy tai vẫn nghe, mọi việc xảy ra đều biết, lúc đó có tâm không? – Tâm đang hiện hữu vì biết là tâm.

Cái tâm suy nghĩ phân biệt là tâm duyên theo bóng dáng của ngoại trần, nó sanh diệt tùy duyên tùy cảnh mà có, không thật. Còn tâm hằng tri hằng giác không đợi nghĩ suy mới có là tâm chân thật không sanh không diệt. Lúc nào nó cũng hiện hữu nơi mình, cảnh đến cũng biết, cảnh đi cũng biết, không có niệm dấy động phân biệt. Tâm này không hình tướng, thênh thang trùm khắp. Chúng ta có cái tâm này mà không nhớ, chỉ nhớ cái tâm phân biệt tốt xấu hơn thua nên mê hoài. Nếu nhớ tâm không sanh diệt trùm khắp thì giác.

Cái tâm chân thật không phân biệt chỉ là BIẾT thôi, nó không biến hoại mà thường hằng. Còn cái tâm phân biệt thì tùy duyên, duyên tốt nó hành xử tốt, duyên xấu nó hành xử xấu, nên có đủ tướng trạng thay đổi luôn luôn.

Thiền sư Mãn Giác nhắc cho đồ đệ cũng như chúng ta biết thân này có sanh ắt phải tử, nhưng trong cái thân sanh tử đó có tâm chân thật bất diệt. Người xưa tu nhận ra tâm chân thật bất diệt, thấy thân năm uẩn này sống chết là trò chơi, nên ra đi một cách an nhiên tự tại. Ngày nay chúng ta gần ra đi lo buồn hốt hoảng vì chỉ biết có cái thân sanh diệt này, khi mất thấy đau khổ.
Ðó là một thiền sư đời Lý nói về Xuân. Sau đây là thiền sư đời Trần, ngài Huyền Quang có làm bài kệ:

Xuân nhựt tức sự
Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả liên vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Bài thơ này hiểu theo thường tình của con người đời thì, hai câu đầu diễn tả cảnh người con gái đẹp mười sáu tuổi, đang ngồi thêu gấm bên cạnh khóm hoa tử kinh nở, trên cành có chim hoàng oanh hót, thật là tình tứ thơ mộng. Nhưng hai câu sau lại khác, ý thơ rất siêu thoát. Ngài nói ngài thương mà thương vô hạn cái ý Xuân là lúc "dừng kim chẳng mở lời". Theo ý này thì ngài thương cô gái hay thương cái gì? – Thương lúc "dừng kim không thêu, làm thinh không nói". Ngài thật là tài, qua lời thơ thấy như trần tục, nhưng ý thơ thì đạo lý sâu thẳm. Trong kinh Giải nghĩa, Niết bàn là dừng tạo nghiệp; nghĩa của tạo nghiệp là đan dệt, dừng tạo nghiệp là dừng đan dệt, dừng đan dệt là Niết bàn. Mà Niết bàn thì vô ngôn, không thể dùng lời để nói năng diễn tả. Hình ảnh cô gái không mở lời chỉ cho ý này.

Mùa Xuân có người đẹp có cảnh đẹp, có hoàng oanh hót, ngài không thích cảnh đẹp người đẹp mà thích nhất lúc "dừng kim không thêu, im lặng không nói". Người "dừng kim không thêu, im lặng không nói" biểu trưng cho trạng thái bất động thanh tịnh của Niết bàn. Lời thơ mang ý nghĩa này thì thiền sư đâu có tình cảm lai láng. Người đời vì không thấy được lý đạo trong thơ nên trách Thiền sư đang bị tình cảm trói buộc, mở lời là tình cảm tràn trề!
Các thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam khi Xuân đến các ngài cảm hứng làm thơ diễn tả mùa Xuân, trong đó không bài nào không chỉ cho chúng ta cái Xuân miên viễn chân thật có sẵn nơi mình. Các ngài không ca ngợi Xuân để chúng ta mừng Xuân vui Xuân trong ba tháng tạm bợ mà dạy chúng ta phải xoay lại để sống với mùa Xuân miên viễn chân thật ở nơi mình. Vậy quí vị chịu sống với mùa Xuân miên viễn nơi mình, hay thích sống với mùa Xuân ba tháng ngắn ngủi tạm bợ? Thích mùa Xuân ba tháng thì hãy tự hỏi tại sao mùa Xuân tạm bợ lại thích, còn mùa Xuân miên viễn thì không biết đến?!

Là người tu, chúng ta phải biết cái tạm bợ vô thường là cái nhân luân hồi sanh tử khổ đau để xa lìa, hằng sống với cái chân thật bất tử. Ðây là điều phải nhớ để thực hiện, chớ nói khó, không làm được.

Nhân ngày Tết Nguyên đán, tôi chúc tất cả Tăng Ni, Phật tử hưởng một mùa Xuân miên viễn.

Cuối lời, tôi chúc cho Tăng Ni và Phật tử năm nay và những năm về sau ai cũng được hưởng một mùa Xuân miên viễn như các thiền sư.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 86: Thiền Tông Việt Nam

Sở dĩ tôi đem hết tâm huyết xiển dương Thiền tông Việt Nam bởi những lý do sau đây:

– Thứ nhất là vì thấy Phật giáo Việt Nam hiện nay quên mất cội gốc của mình, nên tôi cố gắng khơi dậy để làm sống lại Thiền tông Việt Nam, tạo chỗ dựa vững chắc cho Phật giáo Việt Nam hiện tại và mai sau.

– Hai là vì muốn giới trí thức hiện tại và tầng lớp thanh niên sau này không lãng quên Phật giáo Việt Nam, nên tôi cố khôi phục Thiền tông Việt Nam, để họ thấy Phật giáo là thực tế, là chân thật, gắn bó với dân tộc và hữu ích cho mọi người.

– Và lý do thứ ba là bảo tồn cái tinh ba trong sáng của của Phật giáo, tôi truyền bá phương pháp tu thiền để mọi người thấy rõ mục đích Phật giáo là giác ngộ, giải thoát sinh tử, đồng thời đánh tan đám mây mù mê tín dị đoan đang bao phủ hầu hết chùa chiền trên đất nước ta.

Trích “Tu Thiền Để Tâm An Định & Trí Tuệ Phát Triển”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 87: Năm thân nói chuyện con khỉ

Ngày xuân năm nay, chúng tôi sẽ đem đạo lý khuyến khích nhắc nhở tất cả Phật tử tinh tấn tu hành. Tôi sẽ kể về hai con khỉ, một trong kinh A-hàm và một thuộc về các Thiền sư. Trước hết tôi nói chuyện con khỉ trong kinh A-hàm. Đức Phật kể lại thế này: Có một bầy khỉ khi đi ăn, con khỉ chúa luôn luôn kêu gọi các con khỉ trong đàn phải theo đàn đừng đi riêng lẻ rồi bị nguy hiểm. Nhưng có một con khỉ do đi theo đàn kiếm ăn không được nhiều nên nó buồn và nghĩ rằng: Thôi mình tách đàn đi riêng, biết đâu kiếm được mồi nhiều, ăn ngon hơn, theo đàn không đủ chia. Do đó nó tách đàn đi riêng, nó đi đến đúng chỗ thợ săn đặt mồi, mồi thật là ngon nhưng bên cạnh có mấy cây nhựa làm bẫy.

Con khỉ thấy mồi, vì còn nhỏ chưa kinh nghiệm nên nhảy vào chụp mồi. Tay thứ nhất vừa đưa vào liền trúng bẫy nên dính nhựa, nó lúng túng lấy tay thứ hai gỡ (nói tay chớ thật là hai chân trước), nhưng vừa đưa vào liền dính luôn, còn lại hai chân sau, nó lấy chân thứ ba quào cho tróc không ngờ cũng dính vào bẫy, còn chân sau cùng nó nghĩ là còn có thể cứu được nên đưa chân đạp mạnh cho bẫy rớt ra, không ngờ lại dính sâu hơn nữa. Bốn chân đều dính vào bẫy, chỉ còn hi vọng dùng miệng gỡ nên nó hả miệng cạp để gỡ mấy cái chân, nhưng miệng lại dính luôn. Không biết làm sao, chỉ còn có cái đuôi ngúc ngoắc, nó vận dụng hết sức lấy đuôi giật ra không ngờ dính luôn cái đuôi. Như vậy sáu bộ phận của con khỉ đều dính chặt vào bẫy nhựa, người thợ săn đến cột chân nó lại quảy về.

Đó là ví dụ, qua hợp pháp, Phật dạy các thầy Tỳ-kheo và Phật tử phải khéo tu sáu căn. Sáu bộ phận của con khỉ là ví dụ cho sáu căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Sáu căn nếu an trú trong phạm vi của nó tức là giống như con khỉ theo bầy không bị nguy hiểm. Trái lại nếu sáu căn phóng ra ngoài thì sẽ bị nguy hiểm. Thí dụ như mắt vừa thấy sắc đẹp, chạy theo liền nhiễm trước, đến tai thích tiếng hay, mũi thích mùi thơm, lưỡi thích vị ngon, thân thích xúc chạm, ý chạy theo pháp trần. Sáu bộ phận đó đuổi theo sáu trần gọi là dính mắc, giống như con khỉ dính hết sáu bộ phận vào bẫy. Con khỉ dính hết sáu bộ phận thì thợ săn cột nó quảy về, còn chúng ta sáu căn dính với sáu trần rồi thì Ma vương sẽ lôi chúng ta đi. Chúng ta tu để thành Phật chớ không phải tu để thành ma, nếu ma lôi chúng ta thì chúng ta theo ai? – Theo ma! Nhưng ma là gì? Ai cũng tưởng ma có nanh có vuốt, mặt mày rằn ri nhưng không phải, ma khôn lắm, nó trá hình. Những gì đẹp làm cho chúng ta bị lôi cuốn, đó là ma, đừng tưởng là đẹp thật. Nghe tiếng hay tai chúng ta nhiễm, đó cũng là ma. Như vậy sáu trần hấp dẫn lôi cuốn chúng ta, đó là sáu con ma, theo nó thì bị ma dẫn. Trái lại sáu trần dù đẹp dù xấu thế nào chúng ta cũng không màng, không dính, đó là chúng ta làm chủ được thì ma không tài nào lôi kéo chúng ta. Thế là chúng ta thoát được đường ma, thoát đường ma là đi đường Phật, là tu theo Phật. Như vậy quí vị thấy hai con đường, một bên là ma, một bên là Phật, nhưng đường nào dễ đi hơn? Thành thật mà nói thì đường ma hấp dẫn quá. Vì hấp dẫn nên tất cả chúng ta ai cũng thích đi đường ma, nghĩa là thấy cái gì đẹp là muốn được, muốn được tức là bị ma dẫn, bị nó cột hết một chân, vì để được sắc đẹp đó nên việc gì dù tội lỗi cũng vẫn làm, mọi điều xấu ác theo đó mà sanh. Thế nên chúng ta vừa buông lung sáu căn theo sáu trần là chúng ta đã đi theo đường ma, theo đường ma là khó trông cầu giải thoát. Chúng ta bị ma dẫn đi tức là nô lệ nó, trở thành ma em, ma con, ma cháu… Tóm lại hai đường: một bên dính mắc thì bị lôi đi, một bên không dính mắc được tự do tự tại, mà đạo Phật là đạo giải thoát, tự do là nhân của giải thoát.

Chúng ta là người thích tu. Tại sao thích tu? Phải giải thích cho rõ. Thích tu có nghĩa là mong giải thoát, khỏi bị trói buộc. Thí dụ như một cô gái mười tám, mười chín tuổi lại thích đi tu. Người ta hỏi đi tu là thích điều gì? Không lẽ nói nghe tụng kinh hay nên thích, hoặc vào chùa được bánh kẹo nhiều nên thích. Thích đi tu là vì thấy tình cảm ở thế gian cột trói con người trong vòng tài sắc không còn lối thoát. Vì muốn thoát những cột trói đó nên đi tu.

Thí dụ một cô ni mười bảy, mười tám tuổi ở chùa, khi có việc cần đi đâu thì nói "nay tôi đi chợ mua đồ", rồi vào mặc áo tràng đi liền không có gì trói buộc cả. Trái lại một cô gái ở ngoài đời cũng khoảng tuổi đó, có gia đình rồi có một đứa bé chừng năm bảy tháng… muốn đi chợ có dễ không? Mượn ai giữ giùm bé đây? Đó là điều thứ nhất, lại không biết mình đi rồi bé có khóc không? Tức nhiên từ đó chúng ta thấy có trói buộc, lại thêm những trói buộc nhỏ nhỏ nữa như trước khi đi phải sửa soạn mặt mày cho kỹ một chút v.v… trong khi cô ni thì rất đơn giản, chỉ mặc chiếc áo tràng vào đàng hoàng là đi, không có điều gì bận lòng. Giải thoát là như thế, tức là không bị ràng buộc, mà không buộc ràng đó là vì mình tôn trọng mình, muốn được giải thoát nên mình tu.

Như vậy ý nghĩa tu của đạo Phật là giác ngộ và giải thoát. Giác ngộ là biết lẽ thật. Những gì trói buộc, những gì không trói buộc, chúng ta đều biết rõ, chúng ta không dùng cái trói buộc để tự buộc ràng, chúng ta phải theo cái gì có thể giải thoát khỏi sự buộc ràng nên nói giải thoát là nói tự do. Vả lại hiện tại chúng ta được tự do thì khi nhắm mắt chúng ta cũng tự tại nhắm mắt. Nếu quí Phật tử có gia đình, có con, có cháu, khi gần nhắm mắt thì thế nào? Con khóc: Ba ơi Ba! Ba đi bỏ con sao? Cháu gọi: Ông nội ơi! Ông nội chết rồi ai dẫn cháu đi chơi v.v… nghĩa là kẻ này gọi, người kia khóc, xót xa đi không đành, tức là lẩn quẩn trở lại. Còn những thầy tu đi, đệ tử có thương cũng chỉ rưng rưng nước mắt chớ không kêu khóc là bỏ con v.v… Thầy đi rồi, nhưng những gì thầy dạy y theo tu thì được, thế nên mới nhẹ nhàng thảnh thơi đi. Đó là tôi nói thí dụ cụ thể cho quí vị thấy mục đích của người tu là giải thoát, tức là không bao giờ chấp nhận sự trói buộc. Nếu sáu căn dính sáu trần là trói buộc! Nếu dính là đi đường trầm luân, không dính là đi đường giải thoát. Đức Phật vạch cho chúng ta thấy rõ hai con đường, quí thầy nhắc quí Phật tử nhớ hai con đường đó, phải chọn mà đi, chớ đức Phật cũng như quí thầy không lôi quí Phật tử được, chỉ quí vị phải tự nhớ.

Từ trọng tâm đó, chúng ta thấy thời đức Phật tại thế, các Tỳ-kheo đi khất thực phải nhìn xuống đất không quá ba thước. Các ngài sợ điều gì? Sợ bị dính, bị nhiễm nên không dám nhìn để giữ mắt. Đến ai nói hay nói dở gì cũng không để ý, giữ tai không dính, nghĩa là cố làm sao tránh dính nhiễm vì biết rằng dính nhiễm là khổ đau trầm luân. Không dính căn nào là đỡ khổ căn ấy, còn nếu dính hết thì hết cứu. Tỉ dụ như hai tay hai chân dính mà còn miệng thì còn kêu bạn bè cứu được, nếu dính luôn miệng thì hết nhúc nhích. Như vậy con đường tu chúng tôi thấy hết sức rõ ràng là ở nơi sáu căn tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thế nên trong kinh Lăng Nghiêm khi đức Phật muốn chỉ điểm quan trọng, căn bản luân hồi sanh tử và căn bản giải thoát Niết-bàn thì không phải chỉ một mình đức Phật mà cả mười phương chư Phật cùng hưởng ứng, đồng thời nói với ngài A-nan: "Sáu căn của ông là cội gốc của luân hồi sanh tử và sáu căn của ông cũng là cội gốc giải thoát Niết-bàn." Tóm lại trọng tâm của đạo Phật là chỉ chúng ta biết thế nào là giải thoát, thế nào là trầm luân, con đường đó từ đâu có? Phật chỉ cho chúng ta, quí thầy cũng chỉ cho quí Phật tử, nhưng gỡ được, tránh được hay không là quyền của quí Phật tử, nghĩa là bị nhiễm thì trầm luân, không dính mắc thì giải thoát, đó là cội gốc tu hành. Dầu ai nói có thần thông biến hóa gì mà mắt còn nhiễm sắc, tai còn nhiễm tiếng thì người đó chưa phải giải thoát, chưa phải là người tu chân chánh. Người tu chân chánh là gỡ được sáu căn không nhiễm sáu trần.

Như vậy ý nghĩa con khỉ hết sức là quan trọng. Phải nhớ con khỉ dính hết sáu bộ phận, người thợ săn lôi đâu đi đó không giãy giụa gì được, còn nếu dính vài bộ phận thì còn giãy giụa được chút ít nhưng cũng phải đi theo. Chỉ không dính mới thật tự do tự tại. Vậy hẳn quí vị biết rõ con đường tu rồi!

Đến con khỉ thứ hai, con khỉ trong nhà Thiền. Một hôm ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đến Thiền sư Trung Ấp, Ngài hỏi: "Bạch Hòa thượng, thế nào là nghĩa Phật tánh?" Thiền sư Trung Ấp đáp: "Ta nói thí dụ cho ông nghe, như có con khỉ trong cái lồng có sáu cửa, bên ngoài có con khỉ kêu chéo chéo, con khỉ ở trong đáp lại chéo chéo, con khỉ ở ngoài đến phía nào kêu, con khỉ ở trong cũng hưởng ứng lại liền." Ngài nói như thế thôi.

Ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đã cảm thông được điều đó, Ngài liền nói: "Bạch Hòa thượng nếu con khỉ ở trong ngủ thì sao?"

Ngài Trung Ấp liền từ trên toà bước xuống nắm tay ngài Huệ Tịch nói: "Chúng ta thấy nhau rồi, chúng ta thấy nhau rồi!" Hỏi nghĩa Phật tánh mà ngài Trung Ấp lại nói chuyện con khỉ ở trong và con khỉ ở ngoài. Đây tôi giảng rộng, con khỉ trong là con khỉ ý thức của chúng ta, con khỉ ngoài là con khỉ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bên ngoài có sắc đẹp, vừa chợt thấy thì bên trong ý thức phân biệt liền chạy theo, thế nên ngoài kêu thì trong hưởng ứng. Như vậy sáu cửa, cửa nào ngoại cảnh vừa hiện ra, bên trong đều hưởng ứng cả. Chúng ta có giống như vậy không? Nghĩa là tai vừa nghe tiếng nói, liền dấy niệm phân biệt rồi xét lời nói đó là khen mình hay chê mình. Nếu khen thì vui, chê thì giận, vậy là vừa có âm thanh ý thức liền duyên theo phân biệt, rồi giận, buồn, thương, ghét tiếp theo. Ở mắt, mũi, lưỡi, thân đều như vậy.

Trái lại nếu sáu căn không chạy theo sáu trần thì thế nào? Tức là trường hợp con khỉ ở trong ngủ, bên ngoài kêu chéo chéo cũng mặc, ngủ thì không phản ứng, không phản ứng là nghĩa Phật tánh hiện tiền. Vì nếu sáu căn không chạy theo sáu trần thì ở mắt có ánh sáng của Tánh giác hiện ra nơi mắt, ở tai có ánh sáng của Tánh giác hiện ra nơi tai, nơi sáu căn đều có ánh sáng trí tuệ giác ngộ hiện ra. Nếu ý thức vừa dấy khởi chạy theo sáu trần, dính mắc thì Tánh giác ẩn khuất. Thế nên Phật tánh không rời sáu căn, hiển lộ ngay nơi sáu căn. Như tôi hay thí dụ cái nhà vào ban đêm, chung quanh đều tối, muốn biết trong nhà có đèn hay không thì phải làm sao? Phải nhìn qua các cửa, nếu nơi cửa có ánh sáng phát ra thì biết bên trong có đèn. Như chùa này ban đêm chúng ta mở một ngọn đèn neon lớn và mở toang các cửa, người bên ngoài đứng phía trước thì thấy ánh sáng ra cửa trước, đứng bên hông thì thấy ánh sáng ra các cửa hông, đứng phía sau thì thấy ánh sáng ra cửa sau, mỗi cửa đều có ánh sáng phát ra… Cái nhà có thể là sáu cửa, năm cửa… Ngọn đèn chỉ có một, ánh sáng phát ra đến năm, sáu. Ánh sáng của cửa cái với ánh sáng của cửa sau thấy như khác nhưng thật không khác, ánh sáng cửa hông, cửa sổ với ánh sáng cửa sau cũng không khác. Tóm lại tất cả ánh sáng đều không có hai.

Cũng thế nơi sáu căn của chúng ta đã sẵn có Tánh giác hiển lộ, nhưng vì có sự nhạy cảm nên vừa gặp cảnh, ý thức liền chạy ra hưởng ứng nên che khuất Tánh giác hiện có của chúng ta, chúng ta chỉ nhớ phân biệt mà không nhớ cái hằng thấy, hằng nghe. Vậy tu Thiền là gì? Tức là chúng ta luôn luôn dụ dỗ hay là cột con khỉ ở trong lồng lại cho nó nằm yên, nó ngủ thì con khỉ ở ngoài chạy đến sáu cửa kêu gì cũng mặc, con khỉ ở trong vẫn ngủ yên và như thế mọi việc đều an. Đừng để nó thức, nó chạy thì khó mà tu được.

Hiện nay quí vị thấy con khỉ của quí vị thức hay ngủ? – Thức, lại có vẻ rất tỉnh chớ không phải thức kiểu mơ mơ màng màng, thế nên bên ngoài vừa "chéo chéo" là nó hưởng ứng liền. Vì thế chúng ta dễ quên Tánh giác của mình và cứ sống mãi với cái loạn động, cái lăng xăng, đó là nhân của trầm luân. Nếu muốn tu thì không gì hơn là tất cả quí vị phải coi chừng con khỉ của mình, dụ nó bằng những lời êm ái khuyên lơn, ru cho nó ngủ, ngủ được thì tốt, nếu không được thì lấy dây cột nó lại cho nó khỏi nhảy, khỏi chạy. Không nhảy, không chạy, một lúc mỏi mệt nó cũng phải ngủ, chớ để nó thức nó lanh lẹ quá thì nguy hiểm.

Tóm lại chuyện tu hành của chúng ta nói nghe dài dòng mênh mông, nhưng thật ra không ngoài canh giữ con khỉ của mình, hay nói cách khác là canh giữ sáu căn của mình đừng để vọng thức chạy theo phân biệt, nói theo tinh thần kinh A-hàm là chúng ta được giải thoát, nói theo Thiền là chúng ta có Tánh giác hiển lộ nơi sáu căn. Bên Kinh chỉ nói mình giải thoát mà không biết cái gì giải thoát, còn bên Thiền nói mình giải thoát là vì có sẵn cái không sanh không diệt bên trong, nếu không bị lôi cuốn thì thường hiển lộ.

Vậy giải thoát là chúng ta sống được với cái chân thật hằng giác hằng tri của chúng ta. Còn vọng thức phân biệt là không thật nhưng nó nhạy quá, khôn lanh quá nên cả ngày chúng ta bị nó dẫn dụ, chạy ngược chạy xuôi không ngừng. Bao nhiêu người tu đều sợ dừng không nổi vọng tưởng, nay chúng ta biết sự nguy hiểm của nó, mong tất cả quí Phật tử ý thức dừng nó bằng đủ mọi phương tiện. Dùng một pháp để dừng nó thì đó là sợi dây trói. Nếu không dùng một pháp thì mỗi khi nó muốn chạy, muốn nhảy ra tiếp xúc với cảnh ngoài thì nạt nộ nó một chút, nạt nó im thì thôi, không cột dây làm chi cho cực, lại phải tốn công mở. Nếu nạt nó, nó nằm im tức nhiên chúng ta im luôn không cần nạt thêm nữa. Như vậy quí vị thấy được ý nghĩa tu chưa? Tu Phật là như vậy.

Hôm nay là ngày đầu Xuân cũng là buổi cuối tôi nói chuyện với quí vị Phật tử, nên tôi lấy nền tảng, cội gốc của đạo Phật ra nhắc cho quí vị biết để ứng dụng tu. Vì trăm ngàn pháp môn tu cũng đều qui về cội gốc đó, không có pháp nào khác hơn. Nắm vững cội gốc thì tất cả quí vị sẽ tu tiến và chắc chắn sẽ biết rõ mình còn trầm luân hay giải thoát, biết rõ không nghi. Đừng đến chỗ này hỏi, đến chỗ kia cầu, nhất là đừng đi soi căn. Chính tôi đã bị nhiều người đến thưa: Thầy coi căn con tu được không? Ai cũng có Tánh giác, chỉ chịu khó đừng cho con khỉ làm lộng thì Tánh giác hiện ra, ai cũng có quyền làm việc đó, thế mà không tự tin, cứ đi hỏi đầu này đầu kia, mất thì giờ, tốn tiền vô ích. Quí Phật tử phải biết rõ ý nghĩa tu, nguồn cội tu là như vậy, đừng để bị người ta gạt. Chúng ta đã bị con khỉ gạt rồi, nó làm rối loạn tơi bời, lại chạy ra ngoài bị người ta gạt một lớp nữa thì không còn chỗ nào cứu nổi. Quí vị ráng tỉnh táo sáng suốt, biết được gốc của việc tu, từ đó về sau quí vị tự mình cởi, tự mình mở, mở được cái nào là yên lành được cái đó.

Thí dụ lưỡi của chúng ta từ lâu ăn thịt cá quen nên nghe ngon, nay đổi lại ăn chay, ăn rau thì nghe lợt lạt, vậy lưỡi của chúng ta có dính chưa? – Dính vị ngon của cá thịt. Nhưng tôi hỏi quí vị ăn rau có chết không? – Đâu có chết! Ăn rau cũng khỏe, cũng mạnh, cũng hồng hào vậy. Chúng ta biết ăn cá thịt thì lưỡi nghe ngon nhưng rồi cũng chết, nhưng ăn rau không hại loài vật còn ăn cá thịt là hại chúng nó. Bữa ăn nào không có thịt gà, thịt vịt v.v… là buồn, vậy là vì lưỡi mà chúng ta giết hại chúng sanh. Nếu gỡ được lưỡi tức là ăn cá cũng được, ăn rau cũng được, ăn để mà sống là quí vị gỡ được một chút, gỡ được một chút là được tự do một chút. Đến chùa dọn rau thì ăn rau, về nhà dọn gì ăn nấy không buồn, không bực. Quí vị hiểu cho thật rõ, gỡ một cái là yên một việc, tự do được một việc. Gỡ lưỡi tuy khó nhưng dễ hơn gỡ mắt và tai, hai căn này dính nhiều lắm, nếu gỡ được xem như gỡ được nửa phần, những căn khác tuy khó mà dễ, như mũi lâu lâu mới thoảng mùi một chút, lưỡi thì đến bữa ăn mới nếm nên có chừng mực, chỉ mắt và tai luôn hiện hữu, thấy việc này việc kia, nghe chuyện này chuyện nọ luôn, nên Phật dạy phải tu hai căn đó trước. Hiện nay Phật tử chúng ta đa số tu cái lưỡi nhiều, tập ăn chay… Ăn chay nhưng ai nói tức cũng giận muốn cãi lại, đó là chưa biết tu lỗ tai. Đến mắt thấy cái gì đẹp cũng thích, như vậy mắt cũng chưa tu, chỉ tu cái lưỡi một chút. Tuy nhiên được chút nào cũng đỡ chút ấy, vẫn hơn không tu. Nhưng điều hay nhất là phải tiến chớ đừng giậm chân một chỗ, từ tu được lưỡi rồi lần lần đến mũi, tai, mắt, tu thế nào mà không dính mắc gì cả, con khỉ của chúng ta nằm ngủ yên lành ở trong thì khi ấy chúng ta tự do tự tại, không còn gì sợ sệt.

Như vậy là đường lối tu hành tôi đã nhắc cho quí vị nghe, hiểu, mong rằng tất cả nhớ để ứng dụng tu. Nói nhiều nghe rồi quên hết không lợi bằng nói ít mà quí vị nhớ và tu được. Năm nay là năm con khỉ, quí vị nhớ hai con khỉ tôi vừa kể, ráng giữ đúng như lời Phật, lời chư Tổ dạy thì quí vị sẽ an lành tự tại ngay trong đời này, không cần đến đời sau, đời sau nữa. Con khỉ bên trong ngủ rồi, con khỉ bên ngoài có làm lộng gì mình cũng không nhúc nhích, đó là giải thoát tự tại ngay trong đời này. Đó là lời nhắc nhở cuối của tôi.

Vậy hôm nay nhân quí Phật tử đến chúc mừng ngày đầu Xuân, tôi nhắc nhở tất cả quí vị ứng dụng tu và tôi cũng xin ngày nay coi như là tạm biệt quí vị. Quí vị nhớ lời tôi dạy, y như thế tu là đủ rồi, cũng như tôi có mặt. Nếu tìm tôi mà không chịu gỡ các căn thì cũng không lợi gì. Quí vị phải gỡ từ từ để cho mình được tự do tự tại, đó là biết ứng dụng lời tôi dạy, là đền ơn tôi rồi. Mong tất cả quí vị cố gắng

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 88: Văn Giới Sát – Khóa Hư Lục

Phàm các loài sanh từ trứng, thai, ẩm, hóa, tánh vẫn đồng, thấy nghe hiểu biết đâu khác. Chỉ do tạo nghiệp kết oán, nên thọ tên khác hiệu khác. Ngày trước vốn loài người, nay sanh đàn giống khác nhau. Hoặc là bạn bè, hoặc là anh em. Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến làm mai vảy cánh lông. Vợ quên chồng, chồng quên vợ, con trái cha, cha trái con. Đã thấy đổi đầu khác mặt, lôi về mổ bụng chặt chân. Luống lo tham sống sợ chết, lại không một lời kêu đau khổ. Ngươi giết nó, nó giết ngươi, hắn ăn mày, mày ăn lại hắn, hằng không ngày dứt, mãi tạo oan trái. Kiếp kiếp trả nhau, đời đời thù nhau.

Người quay đầu liền đến quê nhà, kẻ phóng tâm hằng chìm địa ngục. Sách Nho dạy: “Thi ân bố đức.” Kinh Đạo dạy: “Ái vật hiếu sanh.” Phật chỉ cấm sát là giữ giới, ngươi phải để ý tuân hành chớ phạm.

Kệ rằng:

Cánh lông mai vảy trọn hàm linh,
Sợ chết tham sanh nào khác tình.
Từ trước Thánh Hiền lòng chẳng nỡ,
Đâu cam thấy chết vẫn tham sanh.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 89: Thường Chiếu và Viên Chiếu

“Tại sao tôi đặt tên Thiền viện này là Thiền viện Thường Chiếu? Nếu quí vị hiểu được tên Thiền viện Thường Chiếu tức là quí vị cảm thông được hoài bão của tôi.…

Hoài bão của tôi thì nằm ngay hai chữ Thường Chiếu. Thường là luôn luôn là mãi mãi. Chiếu là soi sáng. Luôn luôn mãi mãi soi sáng, đó là Thường Chiếu. Khi thành lập Thiền viện Thường Chiếu, đồng thời, có Thiền viện Viên Chiếu.
Lúc đó, hai Thiền viện ra đời trước ở vùng này. Tôi đặt bên Ni là Viên Chiếu, cũng mang hai ý nghĩa. Một là tên một Thiền sư đời Lý và một ý nghĩa khác nữa, Viên là tròn, Chiếu là soi sáng. Thường Chiếu là đứng về mặt thời gian, chiếu mãi, soi sáng mãi, không ngừng, không đứt đoạn. Đó là ý nghĩa Thường Chiếu. Đứng về chiều thời gian, nó liên tục cho tới không biết đâu là cùng. Đó là Thường. Nhưng nếu thường như vậy, có thể bị khu biệt trong một khu vực nào, một ngôi chùa nào miễn thường là được. Cho nên tôi đòi hỏi thêm một điều nữa là phải viên. Viên là tròn. Tròn tức là đứng về mặt không gian trùm khắp. Như vậy thì Thường Chiếu là mãi mãi lâu dài. Viên Chiếu tức là trùm khắp hết. Đứng về mặt thời gian thì mãi mãi không cùng, đứng về mặt không gian thì bao trùm không thiếu.
….
Tôi chỉ là một ngọn mà thôi, tới quí vị là trăm ngọn ngàn ngọn, chớ không phải một ngọn như tôi nữa. Như vậy mới đúng ý nghĩa là Thường Chiếu, là Viên Chiếu. Đó là lời nhắc nhở đầu năm, cũng là đặt trách nhiệm cho tất cả quí vị đi đúng đường, làm cho đúng bổn phận, đừng để lệch lạc. Đó là sự mong mỏi trông chờ của tôi đối với tất cả Tăng, Ni.

Đến đây tôi nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho tất cả chúng ta đều là những người được “truyền đăng tục diệm” mãi mãi."

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 90: Mở cánh cửa Không

Tu thiền để dừng lặng tâm lăng xăng. Tâm lăng xăng lặng xuống thì tâm chân thật hiện đủ. Đó là giác. Giác bằng cách thực hiện ngay nơi mình, chứ không phải tìm kiếm ở đâu khác.

Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã. Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không ? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó.

Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định, còn dính mắc thì không bao giờ an định.

Thí dụ chúng ta vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao? Mình phải trả lời sao cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.

Kinh Bát-nhã nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” nghĩa thế nào? Như bình hoa trước mắt chúng ta, nếu bỏ mấy cọng hoa mỗi nơi mỗi cái thì bình hoa không còn. “Bình hoa” là giả danh, do đủ duyên hợp lại mới có, nếu thiếu duyên bình hoa không còn nữa. Nên nói thể bình hoa là không, do duyên hợp tạm có. Ngay nơi bình hoa chúng ta biết tánh nó là không. Tuy tánh không nhưng đủ duyên hợp lại thì thành bình hoa.

Như vậy lý không ở đây không phải không ngơ, mà là không có chủ thể cố định. Duyên hợp tạm có, duyên ly tán trở về không. Hoa khi phân tán khắp nơi, chỉ còn lại bình không, nếu ta cắm vào đó các hoa khác thì có bình hoa trở lại, nên nói “không tức là sắc”. Rõ ràng sắc và không đều không thật. Nói sắc nói không nhằm chỉ ra lý duyên hợp, đủ duyên thì không biến thành sắc, thiếu duyên thì sắc biến thành không. Nên ngay khi duyên hợp, tánh nó vẫn là không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, không sắc, thanh, hương… Không là nói đến thể của tất cả các pháp. Tất cả pháp chỉ có giả danh, không có thật thể.

Từ đó chúng ta dùng trí quán xét hết các sự vật bên ngoài đều là duyên hợp tánh không. Biết như thế là tỉnh, hết mê. Biết lý tánh không rồi, chúng ta mới bỏ được vọng tưởng điên đảo, các vị Bồ-tát mới có thể tu hành tiến lên thành Phật. Dùng trí tuệ Bát-nhã tức là dùng thanh kiếm bén ruồng hết sáu trần, không chấp không kẹt. Không chấp thì ngồi thiền êm ru, không nghĩ, không tính. Vừa chợt nhớ gì liền tự nhắc “Nó giả dối, có thật đâu mà nhớ”.

Thế nên bước vào cửa Không phải thấy rõ: Một, tất cả cảnh sắc đều hư dối, tự tánh là không. Hai, thân tứ đại duyên hợp hư dối, tự tánh là không. Ba, tâm vọng tưởng sanh diệt hư dối, tự tánh là không. Biết ba cái đó không thật rồi, chúng ta phải tìm cho ra cái chân thật. Đây là chỗ thiết yếu hành giả tu thiền cần phải biết. Cái thật đó lâu nay chúng ta không nhớ không biết nên chạy theo trăm thứ đảo điên. Bây giờ phải nhớ để nhận ra và sống lại với cái chân thật của chính mình, thì mới chấm dứt sanh tử và đau khổ.

Như câu chuyện Đức Phật kể trong kinh Lăng Nghiêm: Một buổi sáng, có anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa đứng trước gương soi mặt, anh thấy mặt mày mình hiện rõ trong đó. Khi úp gương xuống, anh không thấy mặt mình nữa, liền chạy la hoảng: “Tôi mất đầu rồi. Tôi mất đầu rồi!”. Phật nói Diễn Nhã Đạt Đa ôm đầu chạy la mất đầu, có phải điên không? Tại sao anh điên? Vì anh lầm bóng trong gương là đầu thật, nên quên mất đầu thật của mình.

Chúng ta có giống Diễn Nhã Đạt Đa không? Khi nghĩ suy ta thầm cho đó là “tâm tôi”, khi không nghĩ suy thì không có tâm. Nghĩ suy là bóng, mình nghĩ về người thì bóng người hiện ra, nghĩ về vật bóng vật hiện ra. Hết nghĩ suy thì tâm lặng, rõ ràng chúng ta có cái thật nhưng lại không thấy, chỉ thấy toàn là bóng. Vì nhận bóng là mình nên quên cái thật, giống như Diễn Nhã Đạt Đa nhớ bóng quên đầu, đó là điên. Tâm thật luôn có mặt trong hiện tại, không bao giờ vắng thiếu mà ta lại không nhận, đi nhận những thứ lăng xăng chợt có chợt không là tâm mình, như vậy không phải điên là gì?

Chúng ta có cái thấy nghe rõ ràng mà không cần suy nghĩ. Đó là cái chân thật hiện tiền, không động, có sẵn nơi mỗi người. Chỉ vì lâu nay mình cứ cho nghĩ suy là tâm nên quên mất tâm thật. Chấp thân là mình, chấp suy nghĩ phân biệt làm tâm mình, đó là gốc luân hồi sanh tử. Muốn ra khỏi luân hồi sanh tử phải bỏ hết các thứ chấp ấy đi. Muốn bỏ cũng phải tập, bỏ hoài bỏ hoài, lâu ngày mới hết.

Cũng vậy, những vui buồn chúng ta đem ra kể cho cha mẹ nghe là khắng vào tâm não một lần, kể cho anh em nghe là khắng thêm hai lần. Cứ thế kể cho bạn bè, bà con láng giềng nghe, ôn đi ôn lại càng nhiều thì thấm càng sâu trong tâm não. Vì vậy khi ngồi yên nó trồi lên, ta “bỏ” chẳng bao lâu nó trồi lên nữa, ta than phiền tại sao bỏ hoài không hết ? Mình thu vô một trăm lần thì đuổi ra ít nhất cũng phải tám, chín chục lần mới hết chứ. Sao lúc thu vô nhiều không than phiền, khi đuổi lâu hết lại không chịu. Có phải mình vô lý không?

Những buồn đau, giận hờn… xảy đến ta cứ chứa chấp sâu trong kho tàng thức, bây giờ muốn loại trừ phải từ từ. Năm này một ít, năm kia một ít nó mới sạch, chứ không phải một lần sạch liền. Vì vậy ngồi thiền là cốt loại những bóng dáng của quá khứ còn lưu lại trong tâm, khiến nó tan mất đi. Chúng hết rồi thì cái chân thật hiện tiền, hằng tri hằng giác của mình hiện bày. Tri giác ấy là tánh Phật. Chư Phật ra đời mục đích để chỉ dạy cho chúng ta bấy nhiêu đó thôi.

Nhận ra tánh Phật hằng tri hằng giác, không suy nghĩ, không thương ghét, không hơn thua là dứt tạo nghiệp thiện ác. Không tạo nghiệp thiện ác thì đâu có luân hồi sanh tử. Đó là nhân giải thoát. Như vậy tu là giác ngộ, biết mình có cái thật phải nhận lại, cái giả bỏ đi. Bỏ được những thứ hư dối, sống hoàn toàn với tâm chân thật là giác ngộ. Giác ngộ là giải thoát sanh tử.

Chúng ta cứ đúng theo đạo lý Phật dạy mà tu. Tu lâu ngày mọi thứ khổ đau mê lầm sẽ giảm. Khi nào hết mê lầm tức là chúng ta giác ngộ viên mãn. Như vậy mới xứng đáng là Phật tử tức con của Phật. Tu là để giải thoát sanh tử, chứ không phải cứ đi mãi trong mê lầm. Vì vậy Phật tử gặp Phật pháp, được quý thầy nhắc nhở tu hành là có phước lớn, chứ không phải thường. Nếu không sẽ chìm mãi trong biển khổ sanh tử, đeo đuổi theo những thứ tạm bợ của thế gian, chịu nhiều đau khổ không biết đến bao giờ mới hết!

Mong tất cả hiểu được mục đích tu hành của mình để đạt được kết quả như sở nguyện.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 91: Tại sao phải tu thiền

Hôm nay chúng tôi nói thẳng về đường lối tu Thiền mà hiện chúng tôi đang tu tập và hướng dẫn Tăng Ni Phật Tử cùng tu.
Trước khi vào đề tài nầy, chúng tôi muốn nhắc lại một vài điểm cho quí Phật Tử hiểu rõ. Tại sao gần đây Phật giáo Việt Nam chúng ta ít nói đến tu Thiền mà chúng tôi lại chủ trương tu thiền?

Người tu Phật trước tiên cần phải hiểu rõ ngày xưa đức Phật tu hạnh gì mà được thành Phật. Như tất cả chúng ta đều biết đức Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới cội bồ đề và được giác ngộ thành Phật. Như vậy rõ ràng đức Phật do tu thiền mà thành đạo. Thế nên chúng ta là đệ tử của Ngài, thiết nghĩ cũng cần phải tu thiền để đạt đến sự giác ngộ. Các vị A La Hán như Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo gần gũi với Phật trong thời ấy, được chứng quả A La Hán đều do tu thiền. Từ Phật giáo Ấn độ truyền sang Trung Hoa, đến chư Tổ hiện giờ ở Việt Nam mà chúng ta thường thờ như Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi… là những vị Tổ cũng tu thiền. Do đó, chúng ta cần phải suy ngẫm về vấn đề này cho thật kỹ, xem mình nên tu như thế nào. Nếu không, chúng ta chỉ đi theo ngọn mà quên gốc.

Người Tây Phương khi nghiên cứu đạo Phật, họ chỉ nghiên cứu tu thiền vì thiền là gốc của đạo Phật. Cho nên nếu các chùa Việt Nam chúng ta không tu thiền thì quả là điều thiếu sót. Riêng tôi, tôi chỉ dẫn quí vị tu thiền; song điều gì tôi biết, tôi làm được thì tôi mới dám dạy người, điều gì tôi không làm được thì tôi cũng không dám dạy ai hết. Bởi tu thiền là một việc rất quan trọng, rất nguy hiểm.

Quí vị cũng từng nghe nói "Coi chừng tu thiền điên". Thật sự nếu tu thiền điên thì ông Phật đã điên trước rồi và đến các Tổ Sư cũng điên luôn. Thật ra, nếu có người tu thiền điên là do người ấy tu sai chớ đâu phải do tu thiền mà điên. Phải nhìn nhận rằng có rất nhiều Phật tử ham tu thiền, nhưng vì không gặp minh sư, không có người hướng dẫn đúng đắn; rồi vì quá ham tu, nên họ đã chạy theo những người tu ngoại đạo thành ra đi lạc. Ðó là cái nguy.

Vì vậy chúng tôi đã dành bao nhiêu năm ở trên núi tìm ra một đường lối tu thiền thật cụ thể từ Ðức Phật cho đến chư Tổ. Chúng ta phải nắm vững đường lối tu thiền, để việc tu của mình không trái với mục đích Ðức Phật đã dạy, không làm cho mình trở thành bệnh nhân, hư hỏng cả cuộc đời. Phải làm sao tu cho có kết quả, không nhiều thì ìt, chớ nhất quyết không phải chỉ tu để mà tu vậy thôi.

Ngày nay khoa học tiến bộ nhiều, mọi người lo lắng làm ăn học hành… Nhất là các nước công nghiệp ở phương Tây, thời giờ là vàng ngọc. Thế mà thỉnh thoảng tới chùa thấy chư sư ngồi im lặng giờ này qua giờ nọ, quí vị ấy nghĩ rằng người tu hành sao tiêu cực quá. Vì vậy nếu không khéo chúng ta rất dễ hiểu lầm đạo Phật.

Một nhà khoa học chuyên nghiên cứu một vấn đề nào thì họ quyết tâm phát minh cho được vấn đề mình muốn tìm. Khi chưa nghiên cứu thành công, phải miệt mài trong phòng thí nghiệm từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác, chăm chỉ theo dõi vấn đề mình đang nghiên cứu đến khi tìm ra được kết quả, một phát minh mới ra đời v.v… người ta gọi đó là nhà bác học. Ðể được như vậy, họ đã phải mất bao nhiêu thời gian kiên trì, tra cứu, suy gẫm, thí nghiệm, lặp đi lặp lại hàng bao nhiêu lần chớ đâu có lăng xăng từ nơi này đến nơi khác, chạy đầu này đến đầu nọ.

Cũng như vậy, một nhà tu Phật là một nhà nghiên cứu chớ đâu phải tầm thường. Các nhà khoa học tìm hiểu, phát minh những gì ở bên ngoài, chinh phục vũ trụ để phục vụ lại cho con người. Còn Phật giáo không tìm những cái bên ngoài ấy mà tìm ngược trở lại bên trong con người.

Tôi sẽ đưa ra một vài điểm để quí vị xét thấy việc nào quan trọng hơn. Tìm hiểu, thông suốt, chinh phục được vũ trụ để phục vụ cho con người là mục đích của khoa học. Nhưng khi hỏi con người là gì thì người ta lại không biết. Cái bản chất thiết yếu của con người thì không biết, trong khi đó đổ bao nhiêu công sức để tìm kiếm, nghiên cứu những phát minh nhằm phục vụ cho con người, đây có phải là vấn đề tối quan trọng chưa? Vấn đề chánh là phải biết con người thế nào? Là gì? Cái gì là mình?

Giờ đây chúng ta bắt đầu xét từ những việc bình thường, gần gũi với mình. Chúng ta lo cho có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, tiền bạc … là lo cho ai? Cho mình. Lo cho mình suốt cả cuộc đời, nhưng khi hỏi mình là cái gì thì lại không biết. Nếu da thịt gân xương là mình thì chỗ da thịt gân xương nào hư, ta bỏ đi và tìm của người khác thay thế vào. Nếu của mình thì không đổi được, mà đổi được thì có phải là thật của mình không? Cả thân thể này nặng mấy mươi ký, cho là thân mình; nhưng thật ra đó chỉ là một hợp thể do đất, nước, gió lửa cấu thành chớ không có cái thật mình.

Còn sự hiểu biết có phải là mình không Nếu hiểu biết là mình thì nơi mình có trăm ngàn thứ hiểu biết. Khi nghĩ tốt khi nghĩ xấu, khi nghĩ tà khi nghĩ chánh; vậy lúc nghĩ tốt nghĩ chánh là ta, còn lúc nghĩ xấu, nghĩ tà là ai? Chẳng lẽ mình có cái tạp nhạp lộn xộn sao? Khi chúng ta đang khởi nghĩ chuyện hay dở tốt xấu, chúng ta thử dừng lại tìm xem suy nghĩ đó ở đâu? Nhưng khi dừng lại thì nó tan mất. Vậy nó là cái bóng, không thật có. Nếu cho đó là mình thì vô cùng hiểm nguy. Xác thịt này cho là thân mình, cái suy nghĩ lăng xăng cho là tâm mình. Nhận và chấp chặt hai cái đó là mình, cả đời chạy theo nó. Mà chính tâm lăng xăng ấy là chủ tạo nghiệp, dẫn chúng ta thọ nghiệp liên tục trong sanh tử. Lại không biết từ nơi thân tâm giả huyễn ấy có cái chân thật chưa từng bị sanh diệt.

Ðức Phật sau khi giác ngộ, Ngài thấy rõ điều đó. Khi nhìn hồ sen, Ngài nói ta cũng giống như hoa sen. Từ một cái mầm lẫn trong bùn, ra khỏi bùn, trồi lên khỏi mặt nước mới nở thành hoa. Tất cả chúng sanh cũng là mầm của hoa sen, nhưng còn nằm trong bùn, chưa chịu trồi lên khỏi bùn thì biết chừng nào mới nở?

Bùn là Phật ví dụ cho ngũ dục thế gian: Tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ … con người không thoát ra được. Còn đức Phật, Ngài thoát ra được. Từ một Thái tử có vợ đẹp con ngoan, cung vàng điện ngọc … Ngài từ bỏ thoát ra, rồi tìm cách dần dần dứt trừ phiền não, thoát vòng trầm luân của chúng sanh. Chúng ta hiện đang kẹt trong vũng bùn ngũ dục, nhưng nếu quyết tâm chúng ta cũng có thể vượt lên như đức Phật. Vì vậy, Ngài mới tuyên bố: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", đó là lẽ thật mà đức Phật đã chứng nghiệm được. Ðây là ý nghĩa hết sức thâm trầm của đạo Phật. Ngài không hề nói rằng kẻ này tu được, người kia tu không được; mà ai cũng là mầm, là ngó sen, đến một lúc nào đó cũng sẽ ra khỏi bùn, trồi lên mặt nước và nở thành hoa sen thơm ngát.

Muốn thế, bước đầu của người Phật tử ham tu là phải biết tiết chế ngũ dục. Muốn tiết chế ngũ dục phải giữ gìn năm giới tức là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Tiết chế ngũ dục là sao? Tôi đơn cử hai việc gần nhất là ăn và ngủ. Chúng ta ai cũng thích ăn ngon, nhưng khi ăn quá nhiều thứ ngon thì lại sinh bệnh. Ăn để bệnh thì ăn làm chi? Ðó chính là cái dục làm cho chúng sanh khổ. Những người mê sắc cũng vậy. Chiếm không được thì buồn khổ, chiếm được thì ghen khổ, sợ mất, sợ nhục, sợ thất bại cũng khổ. Rồi đến cái ngủ. Những kẻ mê ngủ, nếu hôm nay ngủ thiếu một hai giờ thì ngày mai phải ngủ bù cho đủ. Nhưng thật ra càng ngủ nhiều, khi thức dậy quí vị càng ngầy ngật khó chịu hơn. Như vậy đâu có gì gọi là sướng. Cho nên sống đúng, có nghĩa là sống phải biết tiết chế, chớ không phải sống buông lung. Tiết chế được thì bớt ham, bớt ham thì dễ tu.

Kế đó chúng ta xem trong mình, ngoài mình, cái gì thật, cái gì không phải thật. Khi tìm được cái thật trong mình rồi thì mọi việc ngoài mình xem như đều được giải quyết hết. Ðây mới là vấn đề cứu kính mà con người cần phải dốc lòng tìm và làm cho được. Ðức Phật và giáo pháp của Ngài ra đời chính vì mục đích ấy.

Chúng ta thấy Phật dạy tu như tụng kinh phải bớt loạn tưởng, niệm Phật phải được nhất tâm, tọa thiền phải định … Tất cả đều cốt trị tâm loạn tưởng. Bởi vì loạn tưởng là cái tâm lăng xăng, lâu nay chúng ta bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Bây giờ phải dừng nó lại thì cái chân thật mới hiện ra, chúng ta mới thấy được con người thật của mình

Tổ Huệ Năng khi được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát rồi, Ngài theo lời Ngũ Tổ trốn về phương Nam. Trong chúng có một số người đuổi theo muốn dành lại; vì cho rằng kẻ cư sĩ dốt nát quê mùa như Ngài Huệ Năng không thể kế thế Tổ vị được. Trong số người đuổi theo đó có Thượng tọa Minh là một viên tướng đi xuất gia. Ông phi ngựa rất giỏi nên đuổi theo kịp. Tổ biết không lánh được nên Ngài để y bát trên bàn đá, nói: "Ðây là vật quí trao cho người đạt đạo, chớ không phải là của để tranh dành. Giờ đây có người đến tranh giành thì tôi xin giao cho" Nói xong, Ngài ẩn vaò bụi cây trốn. Thượng tọa Minh đến nơi thấy y bát mừng quá, liền nhẩy xuống ngựa, chạy tới ôm lên nhưng không sao nhắc nổi. Ông biết đây có điều mầu nhiệm chớ chẳng phải việc tầm thường nữa rồi, nên liền gọi Ngài Huệ Năng. Tổ bước ra, Thượng tọa Minh bảo: "Tôi tới đây vì pháp chớ không phải vì y bát, xin Ngài hãy nói cho tôi một câu để tôi được lãnh hội". Lục Tổ bảo: "Nếu thật là vì pháp mà đến thì ông hãy đứng im lặng lắng tâm nghe tôi noí " Thượng tọa Minh đứng yên, Lục Tổ bảo: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Nghe xong Thượng tọa Minh liễu ngộ, xin sám hối và nguyện thờ Lục Tổ làm thầy.

Chúng ta tìm hiểu xem Thượng tọa Minh ngộ ở chỗ nào? Thường tâm chúng ta không nghĩ thiện thì nghĩ ác, không nghĩ ác thì nghĩ thiện. Nếu cả hai thứ đều dừng thì cái gì hiện ra? Từ đó chúng ta mới trở lại vấn đề tọa Thiền. Tọa thiền là ngồi lại, dừng hết cả những niệm tưởng lăng xăng, thiện ác tốt xấu. Dừng được những thứ ấy rồi, xem mình là cái gì? Chúng ta, ai cũng có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Sáu căn này thường có khuynh hướng phóng theo sáu trần bên ngoài, khiến chúng ta chỉ thấy việc bên ngoài mà mù tịt chuyện bên trong. Biết cái ngoài mà không biết cái trong thì gọi là quên mình.

Vậy nếu muốn tìm lại mình, thì phải xoay trở lại, không phóng ra ngoài nữa. Người tu thiền ngồi yên lặng nhìn xuống, mắt lim dim, dồn hết tâm lực soi sáng lại mình, phá tan bóng tối vô minh tự bao đời, tất cả những vọng tưởng lăng xăng đều dừng lặng. Chừng đó bỗng nhiên nhận ra được mình, nhận ra được bản lai diện mục xưa nay của chính mình. Như vậy ngồi thiền có nghĩa là đang khảo sát, đang tìm xem một đề mục rất lớn, đó là: Con người. Một vấn đề hết sức quan trọng của kiếp sống nhân loại. Thế thì tu thiền có phải là tiêu cực không? Ngồi thiền có phải là ngồi chơi, ngồi ngủ cho khỏe không? Thấy được vậy rồi, quí vị mới hiểu được ý nghĩa thâm sâu của việc tu thiền.

Tôi dẫn một câu chuyện trong kinh Lăng Nghiêm, để quí vị thấy hầu hết chúng ta đều lầm lẫn. Trong kinh kể, Ðức Phật muốn chỉ cho Ngài A Nan cái chân thật của mình, Ngài đưa tay lên giữa đại chúng, hỏi A Nan: – Ông có thấy chăng?

Ngài A Nan thưa: – Dạ thấy.

Phật để tay xuống và hỏi: – Ông có thấy chăng?

Ngài A Nan thưa: – Dạ không thấy.

Ðức Phật liền quở: "Ông đã quên mình mà theo vật"

Sau đó Ðức Phật dạy cho Ngài A Nan biết, cánh tay là đối tượng ở bên ngoài, cái thấy là ở nơi chính mình. Vì vậy, khi Phật để tay xuống là thấy không có cánh tay ở chỗ đó chớ không phải không thấy. Cái thấy ấy lúc nào cũng sẵn vậy, luôn luôn hiện hữu bên cạnh mình, chỉ tại chúng ta quên mình, chạy theo vật thành ra không thấy, không biết, chớ không phải nó không có. Ðó là ý nghĩa quan trọng mà đức Phật muốn nhắc nhở cho Ngài A Nan biết và cũng chính là nhắc nhở cho tất cả chúng ta biết.

Quí vị thử nhớ, có hôm nào mình không suy nghĩ gì hết, ngồi ngó trời ngó mây tự tại; nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, mọi động tĩnh chúng ta đều rõ hết. Như vậy lúc đó có mình hay không có mình? Nếu không có mình thì ai thấy, ai nghe đó? Rõ ràng mình vẫn có thấy, có biết, có nghe, chỉ duy nhất là không có suy nghĩ. Nên biết, cho dù không suy nghĩ ta vẫn hiện tiền, vẫn có mình. Còn khi dấy niệm suy nghĩ thì tâm mình cảm nhận vui khổ, lăng xăng … Vậy có phải vui cũng tự ta mà khổ cũng tự ta? Vì chưa hiểu được lẽ thật nên chúng ta lấy giả làm thật, rồi chấp chặt đó là thật nên triển miên luân hồi khổ đau trong sinh tử.

Tu Thiền là cốt làm sao cho lặng những thứ lăng xăng đó để đi, đứng, nằm, ngồi, đều được thong dong tự tại. Từ đó, chúng ta mới nhận ra được cuộc sống là an vui, chớ không đau khổ như những kẻ mê lầm bị chìm đắm theo trần cảnh bên ngoài. Vì vậy căn bản thứ nhất của tu thiền là tìm ra cái thật nơi con người, thứ hai là mang lại sự an lành cho con người. Người tu thiền ít nghĩ những điều không đáng nghĩ, tức là ít khổ, mà ít khổ là ít bệnh.

Ðến đây, chúng ta đi thẳng vào đề mục chính của sự tu thiền. Một vị Tổ của Thiền tông Việt Nam, đó là đức vua Trần Nhân Tông. Năm bốn mươi tuổi, Ngài lên núi Yên Tử lập chùa và ở đó tu một thời gian. Sau đó, Ngài xuống núi để giáo hóa. Khác với một số trường hợp chư Tăng, là Ngài đã thông hiểu giáo lý trước khi xuất gia để trở thành một vị tu sĩ. Vì vua cha Trần Thánh Tông là vị vua rất mộ đạo Phật, nên Ngài gởi Nhân Tông (con trai trưởng) cho Tuệ Trung Thượng Sĩ giáo hóa chỉ dạy. Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ rất thâm thúy về Thiền tông, thấy suốt nghĩa lý của Thiền tông. Vì vậy Nhân Tông thờ Ngài theo đạo thầy trò.

Sau khi mãn thời gian học đạo, Ngài từ giã thầy về lại cung vua làm tròn trách nhiệm của một ông Hoàng. Trước khi từ giã thầy, Ngài hỏi về yếu chỉ tu thiền. Tuệ Trung Thượng Sĩ mới trả lời: "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". Nghĩa là xem ngược lại nơi mình là phận sự chính của người tu thiền.

Nghe câu này, vua Trần Nhân Tông lãnh hội được yếu chỉ, nên sau này đi tu Ngài cũng lấy câu ấy dạy Tăng Ni tu hành.

Khi đã dồn hết tâm lực để tìm ra cái chân thật sẵn có của mình, tức là đã thực hiện đúng tông chỉ thiền của đạo Phật. Vì vậy, là đệ tử Phật, chúng ta phải nương theo đức Phật, chư Tổ và các Thiền sư để không bị lầm lạc.

Tổ Ðạt Ma chín năm ngồi nhìn vách. Tổ Huệ Khả suốt đêm đứng trong tuyết để cầu pháp an tâm. Chúng ta thấy người xưa muốn thấu suốt được việc lớn phải là người nhiệt tình, thiện chí tối đa, chớ không thể lơi là mà được. Ðây là việc rất khó. Ví dụ, sáng chúng ăn cơm rồi đi làm chiều về, quí vị thấy cực nhưng mà dễ. Còn ngồi lại một mình, vừa đau chân vừa buồn ngủ; nên việc này thấy dễ mà khó. Trở lại mình là khó, phóng ra ngoài là dễ. Phải là người có thiện chí tối đa mới thực hiện được công việc này. Cũng vì thế mà Tổ Ðạt Ma đã thử thách đồ đệ của mình xem có phải là người đử sức đảm nhận việc ấy chăng. Sau khi thấy được ý chí dũng mãnh của Huệ Khả, Tổ Ðạt Ma mới bằng lòng truyền dạy, Tổ Huệ Khả bạch với Thầy rằng:

– Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy cho con phương pháp an tâm.

Tổ Ðạt Ma bảo: – Ðem tâm ra đây ta an cho.

Tổ Huệ Khả tìm tâm không được, liền thưa với Tổ Ðạt Ma:

– Bạch Hòa Thượng con tìm tâm không được.

Tổ Ðạt Ma bảo: – Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Ngay câu nói đó Tổ Huệ khả liền ngộ đạo.

Chúng ta nghe thật vô lý, tâm vốn không có tướng mạo làm sao đem ra?

Ngài Huệ Khả là người quyết tâm cầu đạo, hoàn toàn tin tưởng vị thầy nên đối với câu nói của Tổ Ðạt Ma, Ngài không dám xem thường. Nhờ thế mà Ngài ngộ đạo.

Từ đây chúng ta nhận ra Tu Thiền tức là tìm lại xem cái tâm lăng xăng đó nó ở nơi đâu, vì sao ta lại bất an. Tìm lại nó, thấy rõ ràng nó không thật. Thấy được nó không thật rồi thì tâm tự an. Còn nếu chúng ta tìm cách này đè xuống, tìm cách kia diệt đi; nhưng khi có cái bị đè thi lại có cái hay đè, tâm bị hai thứ đối đãi phủ che, làm sao thấy được cứu kính ! Thế nên mới nói tu thiền là trực chỉ, không có một phương tiện nào cả. Ðây là cái đặc biệt của Thiền tông. Ngài Ðức Sơn nói: "Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người" là vậy.

Chúng ta thấy rõ chủ trương của Tổ Ðạt Ma dạy cho Huệ Khả và chủ trương của Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy cho vua Trần Nhân Tông không khác, cùng một gốc "phản quan tự kỷ". Ngồi lặng im một nơi để nhìn lại tâm mình; cái gì sanh, cái gì diệt, thấy biết rõ ràng thì tự nó yên lặng. Khi nó đã lặng thì cái tâm Phật vốn có từ đời đời kiếp kiếp liền hiển hiện. Chỉ vì các thứ vọng tưởng lăng xăng lộn xộn che lấp nên chúng ta quên, không nhớ cái thật đó có sẵn nơi mình. Như mặt trăng trên trời bị mây che nên ta không thấy, đến khi mây tan thì mặt trăng hiện rõ ngay nơi đó chớ không phải từ đâu đến. Cũng vậy, khi phiền não lặng thì tâm an lành hiện tiền.

Trong lúc hướng dẫn tu thiền, chúng tôi tạm chia ra những giai đoạn như sau:

– Phương tiện đầu

– Phương tiện chủ yếu

– Chỉ cần "biết" thôi.

1. Phương tiện đầu:

Vì có nhiều Phật tử chưa biết tu thiền, đầu tiên nếu bảo họ ngồi yên lặng, quan sát tâm thì khó quá. Nhiều vị hỏi "Con ngồi thiền niệm Phật được không? ". Nếu tôi nói được tức là Thiền-Tịnh song tu. Nhưng thưa quí vị, thiền là phải dồn hết tâm lực nhận cho ra, thấy cho được cái chân thật không lầm lẫn. Như vậy nếu bận niệm Phật thì làm sao thấy được cái "vô niệm" ấy. Ðem cái này lắp cái khác thì có lợi ích gì? Thế nên trong giai đoạn ban đầu, chúng tôi dạy tọa thiền theo phương pháp "Quán sổ tức", tức là đếm hơi thở. Quí vị ngồi thiền hít vô thở ra và chăm chú đếm hơi thở của mình từ một đến mười, rồi bắt đầu đếm trở lại. Như vậy có phải chúng ta đang soi ngược lại minh không? Theo dõi hơi thở để quen dần với cách trở về với chính mình, không để tâm duyên ra ngoài và cũng không tập thói quen duyên theo phương tiện bằng những niệm khác, dù là niệm Phật. Mới nghe qua, thấy dường như là chuyện tầm thường nhưng thật ra lại là chuyện hết sức quan trọng.

Khi quí vị ngồi từ mười lăm phút đến nửa giờ, đếm không lộn một số nào, đó là bước tiến ban đầu. Tâm đã tạm ổn định, tiếp theo là ta bỏ đếm số mà chỉ cần theo dõi hơi thở vô ra đều đặn, sâu cạn dài ngắn, biết rõ ràng không tạp loạn. Ngày càng thuần thục thì tự nhiên ta có thói quen quan sát lại chính mình khi tọa thiền. Ðây là chặng thứ nhất.

2. Phương tiện chủ yếu:

Khi chúng ta quen nhìn vào trong rồi, từ đây quan sát thấy rõ những niệm thiện ác dấy khởi, chúng ta đều không theo. Không theo nó sẽ tự lặng. Trong mười lăm phút chúng ta thấy vài chục lần niệm khởi và niệm lặng, ta đều không theo. Ðây là một bước tiến bộ nữa. Mình đã bắt đầu có thể làm chủ được rồi.

Ví như có người nào đó tự nhận là bà con xin ở chung với mình. Chúng ta tin bừa rồi cho vô hộ khẩu. Ðến khi phát hiện ra họ không phải là bà con, mà là kẻ trộm tìm cách vào nhà để dò xét, lấy của cải trong nhà. Nhưng lúc ấy, mình khó có thể đuổi họ đi vì họ đã có giấy tờ chứng minh là người nhà của mình rồi. Còn giờ đây, có người đến xin vào nhà, chúng ta quan sát thấy không phải là bà con, nhất định không cho vô nhà. Nhờ thế, về sau không mất của, lại đỡ rắc rối vậy có khỏe không? Một bên vô ra không kiểm soát được nên sanh hậu quả buồn khổ mất mát; một bên kiểm soát được vô ra thì đương nhiên ít bị mất mát, cũng không bị phiền toái, bất an, dần dần được an ổn hoàn toàn, sống tự tại thoải mái.

Cũng vậy, lâu nay ta nghĩ tâm mình thật, thân mình thật nên niệm khởi, nghiệp dẫn triền miên, khiến ta phải chịu khổ sở điêu đứng từ đời này sang đời khác. Còn bây giờ, nó vừa dấy lên, ta điểm mặt nó, biết nó là vọng tưởng, không nhìn nhận, không theo nó thì không bị nó gạt dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử nữa. Ðây là chặng thứ hai.

3. Chỉ cần "biết" thôi:

Cái "biết"này thật là quan trọng. Nếu biết vọng tưởng do niệm khởi; thì cái vọng là cái bị biết, còn cái biết đó là chủ. Cái biết này là trí sáng suốt, nó hoàn toàn khác với cái lăng xang, lanh lợi của thế gian.

Ví dụ, tôi ngồi trong thất; khách đến tôi biết, khách đi tôi biết. Cái biết đó là cái biết của chủ, cái biết của an nhiên tự tại trước mọi đổi thay. Thấy, nghe đều biết rõ ràng mà hằng tự điều phục được tâm ý, tự tại, tự nhiên, không vướng mắc theo trần cảnh bên ngoài. Người tu thiền đã thuần thục rồi, khi vừa lên bồ đoàn liền tỉnh táo nhìn thấy rõ tâm mình. Tuy còn niệm vọng lăn tăn, nhưng họ vẫn vui vì biết mình nhận rõ được vọng tưởng, không lầm lẫn. Nhìn thấy vọng tưởng, đó là huệ, vọng tưởng liền lặng, đó là định. Ðịnh huệ song tu hay là định huệ đồng thời. Ðây chính là chủ trương của Lục Tổ Huệ Năng. Tinh thần Thiền tông là tinh thần định huệ đồng thời. Nghĩa là thấy vọng tưởng biết là niệm khởi, liền đó niệm lặng; tức là ngay nơi cái động là tịnh chớ không cần phải đi đâu xa.

Cái biết vọng tưởng này thật là quan trọng. Vì nếu chúng ta dùng phương tiện nào để tu thì khi đi, đứng, nằm, ngồi cũng phải xử dụng phương tiện đó. Còn cái biết vọng này không cần động, không cần tịnh. Cho nên tu mà không ai thấy mình tu. Ví dụ: Một công nhân viên vô sở chăm chỉ với công việc của mình, biết rõ mình đang làm gì, toàn tâm toàn ý, không để đầu óc nghĩ ngợi lung tung. Như vậy tu trong giờ làm việc cũng giống như tu trong giờ tọa thiền, không có gì trở ngại cả, mà kết quả mặt nào cũng tốt. Công việc tốt, sự tu hành cũng tốt.

Có một số người khi vừa mới tập tu, vì ít nhớ nghĩ nên hay quên, rồi hoảng sợ cho rằng tu thiền xem chừng không ổn, càng tu chắc càng ngu. Thật ra, có ngu nhưng ngu thứ lanh lợi ở thế gian chớ không ngu với trí tuệ và lòng nhân ái. Thường chúng ta tưởng ít lanh lợi là ngu, nhưng không phải như vậy. Chính nhờ bớt lanh lợi nên chúng ta mới bớt tạo nghiệp, mới được an nhiên thảnh thơi. Càng đi sâu trong việc tu, chúng ta càng ít biết những tạp nhạp bên ngoài, xem như mình ngây ngô. Nhưng đến một ngày nào đó, chúng ta bừng sáng, thấy được cái chân thật nơi mình nằm sẵn trong mỗi con người; chúng ta thấy rõ, biết rõ bản chất con người và biết luôn bản chất của vũ trụ. Thử hỏi người được như vậy là người ngu hay người trí.

Ðức Phật ngồi tu dưới cội Bồ đề, không học, không đọc kinh, mà khi được an định hoàn toàn, Ngài giác ngộ. Do giác ngộ, Ngài biết tất cả, nên những gì Ngài nói đều là sự thật. Ví dụ: Ngài nhìn chén nước thấy trong đó có vô số vi trùng; vì vậy Phật dạy chư Tỳ Kheo trước khi uống nước phải đọc bài kệ:

Phật quán nhất bát thủy,

Bát vạn tứ thiên trùng,

Nhược bất trì thử chú,

Như thực chúng sanh nhục.

Nghĩa là Phật thấy trong một chén nước có tám mươi bốn vạn vi trùng. Người uống nước nếu không nghĩ nhớ chú nguyện cho chúng thì như ăn thịt chúng sanh vậy. Ngài có kính hiển vi không? Không có mà thấy rõ ràng, trước đây hai ngàn năm trăm năm có ai tin không? Ðến bây giờ nhờ phương tiện khoa học, mọi người thấy điều Phật nói là đúng sự thật. Cũng như thế, Ngài nhìn trong hư không thấy vô số thế giới, Ngài nói hằng hà sa số thế giới, nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Ðộ. Ngày xưa khó có thể tin được, nhưng bây giờ nhân loại đã có cơ sở để tin điều đó. Trong nhà Phật nói thế giới có mười phương, ngày xưa rất ngạc nhiên. Nhưng khi biết trái đất này lơ lửng trong hư không thì phía nào cũng được xem là phương cả, chớ không chỉ có theo bề mặt mà nói bốn phương tám hướng. Chúng ta nghe câu "Bốn phương trờì mười phương Phật", câu nói rất tầm thường nhưng ý nghĩa vô cùng tế nhị mà người đời ít biết.

Nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu trong sách Phật hơn nữa thì sẽ thấy còn rất nhiều vấn đề Phật nói, mà ngày nay khoa học vẫn chưa tìm ra được. Vậy thì không phải người ngồi tu yên lặng chỉ tìm ra được mình và chỉ biết có bấy nhiêu đó thôi, mà còn biết tất cả vạn pháp trong vũ trụ. Cho nên, nói tu thiền là nói đến việc làm có ý nghĩa quan trọng, một phát minh vĩ đại chớ không phải tầm thường, tiêu cực như một số người thường nghĩ.

Vị Thiền Sư giam mình trong thiền thất có khác chi nhà bác học giam mình trong phòng thí nghiệm. Cả hai đều nghiên cứu để phát minh về con người và vũ trụ, nhưng hai cách hoàn toàn khác nhau với hai mục đích cũng khác nhau. Các nhà khoa học muốn dùng những thành tựu của khoa học để phục vụ cho cuộc sống con người tiện nghi hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn. Còn Thiền sư mang một ý nguyện sâu xa hơn, quan trọng hơn là giúp cho mình và mọi người tự hiểu lấy bản chất chân thật của chính mình, làm chủ được mình và tự giải thoát ra khỏi trầm luân sanh tử.

Quí Phật Tử ngày nay thường thích tu pháp gì vừa dễ vừa mau. Tu mà khó quá thì ngán. Cho nên chỉ cần đến chùa tụng kinh, niệm Phật là thấy đủ rồi. Như vậy thì làm sao đi đúng tinh thần của Phật dạy, là phải đi sâu, đi sát nguồn gốc của sự giác ngộ giải thoát? Nghĩa là phải làm sao thấy cho được con người thật của chính mình, biết được manh mối nào dẫn mình triền miên trong sanh tử, làm sao dứt được mầm sanh tử đó. Ðược như vậy mới gọi là người tu Phật chân chính.

Ban đầu quí Phật tử ngồi thiền thấy vọng tưởng liên miên chớ có sợ sệt, cũng đừng buồn. Lục Tổ có nói: "Bất phạ niệm khởi, duy khủng giác tri". Tực là không sợ niệm dấy lên mà chỉ sợ giác chậm. Nó lên bao nhiêu cũng được, mình thấy hết thì không có gì ngại. Ðó là điều quan trọng. Chỉ cần giác biết rõ ràng niệm khởi là vọng không theo thì chúng tự lặng. Niệm có đến có đi nhưng cái biết vẫn thường hằng. Cứ như thế tu tập nhuần nhuyễn, dần dần tâm sẽ an định. Một mai chúng ta sạch hết vọng tuởng thì những thứ siêu việt hiển hiện. Ðó là cái phi thường vượt ra ngoài đối đãi động – tịnh, có – không của thế gian, mà người đời không sao hiểu nổi.

Tất cả chúng ta tu Phật, học Phật cần phải biết rõ và nắm vững trọng tâm của sự tu hành. Ngày nay có một số Tăng, Ni, Phật tử có chút ít công phu nghiên cứu cũng nhận ra nơi mình có cái thật. Nhưng nhận được rồi liền tưởng mình thành Phật, ai nói trái tai, trái ý liền nổi giận đùng đùng. Ðó là bệnh. Bởi vì trong khi tu, đôi khi chúng ta cũng nhận được cái chân thật ấy. Quả tình chúng ta có sáng, nhưng thói quen, tập khí lâu đời của mình chưa bỏ được, cần phải trải qua một thời gian dài tu tập cho thuần thục; khi nào tám gió thổi không động, chùng ấy mới có thể gọi là tự tại được. Vì vậy cổ đức thường có câu:

Ðốn ngộ tuy đồng Phật,

Ða sanh tập khí thâm,

Phong đình ba thượng dũng,

Lý hiện niệm du xâm.

Nghĩa là tuy chúng ta ngộ mình có ông Phật rồi, ông Phật của mình cũng giống như Phật, nhưng nhiều đời tập khí còn quen nên gió lặng rồi, mà nhìn lại dưới biển sóng vẫn còn lăn tăn, phải lâu mới hết. Lý đạo chúng ta đã thấy, nhưng ý niệm lăng xăng vẫn còn, nên phải tu thật kỹ thật lâu.

Ngài Trần Tôn Túc nói: "Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ". Nghĩa là việc lớn chưa sáng thì cố gắng tu, không màng tất cả những thứ bên ngoài, giống như người đưa đám ma mẹ mình, ai làm gì chung quanh mình không chú ý, chỉ một bề nhớ thương mẹ. Nhưng khi việc lớn đã sáng vẫn như đưa ma mẹ. Vì thấy được việc lớn rồi mà tập khí còn nhiều, cũng phải cố gắng dẹp trừ, đâu có rảnh rỗi mà để ý ngó đây ngó kia. Thế nên người tu phải rất cẩn thận, dè dặt, chớ không thể đơn sơ được.

Nếu quí Phật tử tu như thế, tôi tin rằng quí vị sẽ được an ổn nhiều, xã hội chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn. Bằng buông trôi thì bản thân chúng ta ngày càng buông lung, sa đọa và xã hội ngày càng xấu đi. Còn nói về kết quả dành cho người tu lâu dài niêm mật thì tôi có thể mượn bài kệ số chín (Phản bổn hoàn nguyên – trở về nguồn cội) trong Thập mục ngưu đồ để quí vị nhận rõ kết quả việc tu thiền:

Phản bổn hoàn nguyên dĩ phí công

Tranh như trực hạ nhược manh lung,

Am trung bất kiến am tiền vật,

Thủy tự mang mang họa tự hồng.

Dịch:

Phản bổn hoàn nguyên đã phí công,

Ðâu bằng thấy đó tợ mù câm.

Trong am chẳng thấy ngoài vật khác,

Nước tự mênh mông, hoa tự hồng.

Chúng ta bỏ ngọn trở về nguồn gốc tức là phản bổn hoàn nguyên, tuy nói gì thì nói, thật ra cũng phí công. Chỉ cần đối với thanh sắc, thấy như mù, nghe như điếc thì thấy nghe đủ hết nhưng không tham không dính. Trong am thấy việc trong am chớ không thấy việc khác ở bên ngoài. Bên ngoài kia nước mênh mông, hoa đỏ rực; thì nước cứ nước, hoa cứ hoa, không có gì quyến rũ xao xuyến lòng ta. Ở trong thế gian mà vẫn không bị thế gian lôi kéo trói buộc. Ðó là kết quả rốt ráo của tu thiền.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 92: Giờ ngồi thiền

Nhớ tới giờ ngồi thiền là chúng ta nhớ tới giờ phút linh thiêng. Giờ đó hết sức quý báu, quý vị đừng xem thường, đừng để mất đi. Người nào biết trân quý giờ ngồi thiền, tự nhiên sẽ thấy giá trị và kết quả của ngồi thiền, còn vị nào cho đó là giờ trả nợ, sẽ không bao giờ thấy được giá trị và kết quả của ngồi thiền.

Muốn chinh phục mình, làm sao đừng để nội tâm có những niệm sai lầm, đừng nghĩ giờ này là giờ bị bắt ngồi thiền. Phải biết đó là giờ phút quý báu dành cho mình tu. Nhất là buổi khuya ngủ dậy tỉnh táo, khí hậu mát mẻ, ngồi thiền là cơ hội hết sức tốt để nhận lại cái mình sẵn có. Người dồn hết tâm lực trong sự tu, nhất định sẽ đạt kết quả không nghi. Còn người cảm thấy mình bị bắt buộc tu thì ngàn năm cũng không tiến. Do thấy giờ ngồi thiền quý báu nên chúng ta không dám xem thường, nhờ đó lúc nào cũng nỗ lực tinh tấn. Nếu không thấy như vậy sẽ dễ thối tâm, dễ lùi bước trên con đường đạo. Đó là lẽ thật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 93: Gương Phật và Tổ

Đức Phật là một Thái tử đi tu, ông Tổ của mình là một ông vua đi tu, còn chúng ta là gì? Là bần cố nông đi tu! Nhớ lại Phật, nhớ lại Tổ, chúng ta có cảm thấy xấu hổ hay không? Các Ngài bỏ hết địa vị quyền lợi và hạnh phúc của thế gian, chịu cực, chịu khổ tìm đạo, học đạo và ngộ đạo rồi các Ngài giảng dạy cho chúng sanh. So lại chúng ta ngày nay chưa phải là người giàu có, vẫn làm lụng vất vả mới có cơm ăn, có đi tu thì chúng ta hy sinh những gì? Có chăng là hy sinh cái nghèo, để được làm thầy tu. Hy sinh cái nghèo đâu phải việc khó. Có người đem bán cái nghèo, không ai chịu mua kia mà, thế thì đâu có gì gọi là hy sinh! Như vậy chúng ta bỏ cái nghèo để đi tu là việc làm dễ trăm phần, nếu không làm được thì thật quá dở. So với đức Phật và Sơ Tổ Trúc Lâm, các ngài ở trong hoàn cảnh khó khăn đủ mọi bề. Là một Thái tử đi tu, vua cha buồn rầu không biết giao sự nghiệp cho ai, vợ con khóc than không ai lo lắng, quần thần và nhân dân đều trông cậy, thế mà Ngài bỏ đi một cách dễ dàng. Đến như Sơ Tổ Trúc Lâm, Ngài là vua đang cai trị muôn dân, quần thần và toàn dân tín nhiệm mà Ngài cũng bỏ ngai vàng đi tu. Những việc rất khó làm mà các Ngài đã làm được, thì chúng ta ngày nay là những kẻ hậu sanh hậu học làm một chuyện hết sức dễ và đơn giản mà chúng ta không nỗ lực gắng làm cho thành công hay sao? Thế nên đọc qua lịch sử của người xưa, chúng ta phải làm sao cố gắng hơn, không thể lơ là lôi thôi như thế này mãi.

Trích “Tam Tổ Trúc Lâm – Giảng Giải”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 94: Không nên nôn nóng

Những người mới vào đạo nôn nóng nghĩ tu chừng nào mới thành Phật,bao lâu mới được chứng quả, đắc đạo. Nghe nói đến ba vô số kiếp thì thở dài ngao ngán.

Tu hành không nên tính toán thời gian, làm việc lành cũng vậy tùy theo khả năng và sức lực của mình khi công đức lành viên mãn Trí Tuệ đầy đủ chừng đó thành Phật.

Những người nôn nóng muốn tu mau thành mà không được kết quả như ý sanh tâm chán nản dễ bỏ cuộc. Người này cũng đáng khen vì có tinh tấn nhưng nôn nóng là một tai họa chứ không phải là chuyện tốt phải có ý chí bền bỉ dũng mãnh mới mong thành tựu

Người tu phải có cái nhìn thật chín chắn hiểu được lý này thì ngày nào giờ nào cũng tu, việc lành nào đến có thể làm được thì cố gắng làm. Niệm xấu Khởi lên biết buông bỏ, điều tốt phải làm cho tăng trưởng.

Thực hành mãi như vậy sẽ được Công Đức viên mãn.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 95: Trọng thực tu

Người thế gian thường khen những hình thức giả tạm bên ngoài, còn cái thực là đối với sáu trần biết rõ ràng mà không dính không nhiễm thì không khen. Ví dụ quí Phật tử thấy chư Tăng Ni tu, người nào ra đường nghiêm trang tề chỉnh, đi ngó dưới đất, không ngó qua ngó lại, hoặc thấy thầy cô nào ăn mặc rách rưới sơ sài… quí vị khen thầy cô đó tu rất nghiêm chỉnh đạm bạc. Còn những thầy cô được người đem biếu tặng vật gì đẹp mắt nhưng không ham, không nhận, quí vị làm sao biết mà khen?

Như vậy chúng ta chỉ thấy hình thức bên ngoài, còn tâm niệm trong sáng không dính không mắc bên trong người đời ít ai thấy được. Người tu hình thức tuy rất nghiêm trang nhưng nội tâm còn dính mắc thì vẫn không thể giải thoát như thường. Còn người tuy hình thức tầm thường nhưng mọi dính mắc đều không cột trói được, người đó tự nhiên được giải thoát. Cho nên chúng ta phải biết rõ trọng tâm khen chê không phải ở hình thức mà ở tâm niệm của mỗi người. Ai đã thoát được, đã tháo gỡ được những cột trói của dục lạc thế gian, đó là người đáng khen. Còn hình thức bên ngoài nghiêm trang nhưng đụng đâu dính đó thì chưa đáng khen.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 96: Con người từ đâu đến

Câu hỏi này tôi dùng lý lẽ trong Kinh mà trả lời chứ không phải cái biết riêng tôi .

Trong kinh Phật dạy cho rằng: Con người từ Lục đạo mà tới – Tức là 6 cõi : Địa Ngục, ngạ quỷ ,súc sanh, người , a-tu-la và cõi trời

Nếu người từ cõi trời xuống thì người đó vừa đẹp vừa hiền lành đức hạnh ,đó là vì hết Phước ở cõi trời nhưng họ còn Phước dư làm người.

Ở cõi A-tu-la cũng có phước khá ,nhưng nóng giận nhiều .

Còn người nào có tư cách tốt, không có tâm giết hại người, cũng không có tâm trộm cướp ,tà dâm, nói dối , không thích say sưa thì đó là đời trước làm người- bây giờ trở lại làm người cho nên rất đứng đắn đàng hoàng.

Còn nếu ở cõi súc sanh lên làm người , thì còn dư báo của cõi súc sanh là tâm si mê tối tăm , học hoài không thuộc. Tuy hết quả báo ở loài vật được lên làm người những dư báo si mê còn nên tối tăm .

Còn ai ở ngạ quỷ , hết tội lên được làm người , nhưng tâm bỏn sẻn còn thừa có tiền không dám xài , không dám làm việc tốt, việc phải .

Còn nếu ở địa ngục, hết tội lên làm người thì thân bệnh hoạn ,xấu xa ,tật nguyền ..

Đó là 6 chỗ tới cõi người theo kinh Phật nói.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 97: Tiến tu

Có thân này là do nghiệp, hoặc nghiệp lành nghiệp dữ; nếu thọ thân trong cảnh tốt được sung sướng an vui là do tạo nghiệp thiện, còn thọ thân trong cảnh xấu chịu khổ đau là do tạo nghiệp ác. Biết được khổ vui là do nghiệp mình tạo, để gan dạ chịu, không than oán khi gặp khổ, và cố gắng chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, nếu ta còn luân hồi. Hoặc gan dạ cắt dứt mọi trói buộc của nghiệp để được tự tại trong tam giới, đó là tu. Ngược lại biết rõ nghiệp, mà vẫn đầu hàng, phó mặc cho nó chi phối lôi trì, là không biết tu vậy. Còn taọ nghiệp là phải thọ thân, mà có thân thì khổ, vì thân này vô thường hoại diệt, dù là vua chúa hay ăn mày cũng không thoát khỏi vô thường, nên gọi là hình lụy. Có thân là có đủ các nỗi khổ nào là sanh, già, bịnh, chết, thương yêu xa lìa, thù oán gặp gỡ… Chỉ khi nào cắt dứt nghiệp thì không thọ thân và dứt luân hồi sanh tử. Không thọ thân không có nghĩa trở thành hư không, mà lúc ấy muốn độ ai thì tùy nguyện đến cứu giúp họ. Khi làm xong việc rồi đi một cách tự tại, chớ không bị nghiệp chi phối ép ngặt.

Người giữ giới không sát sanh đời sau sanh ra sống lâu. Giữ giới không trộm cướp đời sau sanh ra giàu sang, tiền của không bị hao mất. Giữ giới không tà dâm đời sau sanh ra được thân thể đẹp đẽ trang nghiêm. Giữ giới không nói dối đời sau sanh ra lời nói lưu loát, ai nghe cũng tin cũng quí. Giữ giới không uống rượu đời sau sanh ra có trí tuệ thông minh. Năm giới như thế nếu giữ trọn đời này đã là người tốt, đời sau sanh ra lại còn tốt hơn.

Quí vị kiểm lại mình tự biết thiếu giới nào thì ráng tu cho đủ. Tối thiểu phải giữ năm điều đó mới không bị tuột xuống. Người không giữ giới dù có niệm Phật mấy, Phật kéo cũng không nổi nữa. Cho nên giữ năm giới là gốc của kiếp sau được trở lại làm người. Đó là tu, chớ không phải vô chùa cạo đầu mới gọi là tu. Người nào tiến hơn tùy theo sức của mình tu pháp Thập thiện, đời sau sanh lên cõi trời sung sướng hơn. Nhưng nhớ cho dùm là cõi trời cũng chưa được giải thoát, vẫn còn bị trầm luân đọa lạc nếu ở trên đó mà không biết tu.

Vì vậy nếu muốn được giác ngộ giải thoát thì tu các pháp như : Tứ đế, mười hai nhân duyên, các pháp thiền định v.v …. thì chứng quả A-la-hán, mà A la hán là vô sanh là giải thoát sanh tử. Còn như ai chưa muốn giải thoát thì giữ năm giới, tu mười điều lành để đời sau trở lại làm người hoặc sanh lên cõi trời tiếp tục tu nữa. Nhưng nhớ thấp nhất là trở lại làm người, đừng để tuột xuống. Phật tử là người biết tu thì sau khi qui y rồi y cứ vào lời dạy của Phật, của chư Tổ, lời nhắc nhở của quí thầy quí cô mà lo tu hành. Chớ không phải qui y rồi gia đình có hữu sự gì thì mời quí thầy quí cô cầu an cầu siêu cho. Nếu hiểu như vậy và làm như vậy thì không phải là đệ tử Phật. Vì có tu mới có an lạc, có tu mới có giác ngộ và giải thoát, chứ không phải cầu nguyện mà được an lạc mà được giải thoát như một số người hiểu lầm đạo Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 98: Thật tu không cầu xin

Nếu hiểu đạo Phật một cách đúng chúng ta sẽ thấy có những đặc điểm như sau. Đặc điểm thứ nhất, đạo Phật nói đúng như thật chớ không dối gạt người. Tất cả những gì Phật nói đều là lẽ thật. Đạo Phật cho chúng ta biết thế gian là khổ và chỉ phương pháp diệt khổ. Đặc điểm thứ hai, đạo Phật chỉ cho chúng ta nhận ra cái chân thật có sẵn nơi mình, vĩnh viễn xa rời trầm luân sanh tử, chớ không phải từ đâu lại. Đặc điểm thứ ba, đạo Phật tôn trọng tự do tuyệt đối. Tất cả chúng sanh ai cũng có quyền làm Phật và tất cả chúng sanh ai cũng có quyền làm chúng sanh. Nhưng nhớ rằng muốn làm Phật thì phải dẹp sạch hết tham sân si. Còn nếu như muốn làm người thì phải giữ năm giới. Muốn xuống địa ngục thì tạo mười điều ác. Muốn làm a tu la thì cứ việc sân hận. Còn ngu si thì làm súc sanh. Tham lam bỏn sẻn thì làm ngạ quỉ. Còn như muốn lên cõi trời hưởng phước thì tu thập thiện, tức là mười điều lành. Nhưng nhớ cho rằng sáu đường kia còn phải chịu luân hồi sanh tử, chỉ có giác ngộ giải thoát thành Phật rồi thì mới ra khỏi luân hồi. Vì vậy phần chọn lựa quyết định là của chúng ta.Tất cả khổ vui, giải thoát hay trói buộc gốc từ mình.

Chúng ta đến với đạo Phật là đến với tâm hồn chân thật, phải dụng công tu hành, không phải đến với đạo Phật bằng cách cầu xin. Nếu quý Phật tử gẫm kỹ, nhớ cho rõ ràng, từ hồi biết đi chùa cho tới bây giờ, mình tu theo Phật hay là cầu xin Phật ? Chắc tu ít, cầu xin thì nhiều. Đó là điều đáng buồn mà cũng rất đáng thương. Nếu Phật tử cứ đi cầu xin hoài thì đạo Phật đã mất rồi. Dầu còn chùa, còn Phật tử cũng không còn đạo Phật, vì Phật dạy tu mà mình có tu gì đâu ? Nên nhiều người đi chùa mười năm, hai mươi năm nhưng phiền não ngày càng tăng chớ không giảm. Đi chùa nhiều mà sân cũng lắm, giận cũng nhiều thì có hiệu quả gì đâu. Nói đi chùa, nói tu theo Phật mà không lo tu chỉ lo xin thì chưa xứng đáng là đệ tử Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 99: Tu là chuyển nghiệp

Tinh thần nhân quả của đạo Phật không phải gây nhân nào chịu quả nấy trọn vẹn, ngoại trừ người không biết tu thì nhân quả không sai khác. Còn với người biết tu thì nhân quả biến chuyển theo công phu tu hành cao thấp mà có sai khác. Tu là chuyển nghiệp giảm hết phiền não khổ đau để được an vui hạnh phúc; đó là tu đúng theo lời Phật dạy. Nếu tu sai thì không chuyển được nghiệp nên phiền lụy cứ dai dẳng khổ đau không dứt trừ, lại còn thối chí tu tập, không được lợi ích gì cả. Mong rằng chúng ta nên nghiệm xét ứng dụng tu hành để trên đường tu mỗi ngày mỗi tiến cho hết khổ được vui.
Trong kinh Phật ví dụ người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận lời mắng chửi đó. Người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rơi xuống ngay mặt người phun. thế nên, có thọ nhận mới dính mắc khổ đau, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Từ đây về sau, nếu mình có nghe ai nói gì về mình dù tốt hay xấu, chớ nên thọ nhận thì sẽ được an vui. Đa số chúng ta có cái tật nghe người nói không tốt về mình qua miệng người thứ hai, thứ ba, thì tìm phăng cho ra manh mối để thọ nhận rồi nổi sân si phiền não, đó là kẻ khờ không phải người trí. Tuy có chướng duyên bên ngoài mà chúng ta biết giải, không thọ nhận, đó là tu. Không phải tu là cầu an suông, mà phải có người thử thách để có dịp coi lại mình đã làm chủ được mình chưa. Nếu còn buồn giận vì một vài lý do bất như ý bên ngoài, đó là tu chưa tiến
Cũng vậy, chúng ta khi phát tâm tu, nếu gặp người làm khó không nên buồn giận, mà phải quán khởi lòng thương và cảm hóa họ. Nhứt là những Phật tử có gia đình mà biết tu, hoặc bị chồng ahy vợ, hay con làm khó dễ, đó là cơ hội tốt để mình tu, chớ buồn giận và đừng cho rằng bạn mình, con mình phá rối không cho mình tu. Mà nên xét nghĩ thương bạn, thương con, vì chưa hiểu đạo, còn mờ còn tối, cần sự cảm hóa của mình. Thế nên, tất cả mọi khó khăn, những lời xúc não, nếu chúng ta biết tu, tâm sáng suốt hóa giải tất cả thì được an vui.

Một lần khác, Phật đi giáo hóa vùng Bà la môn, các tu sĩ Bà la môn thấy đệ tử của mình theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn thong thả đi, họ đi theo sau chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức, chặn Phật lại hỏi :

– Cù-đàm, có điếc không ?

– Ta không điếc.

– Ngài Không điếc tại sao không nghe tôi chửi ?

– Này Bà la môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng, họ không nhận thì quà ấy về ai ?

– Quà ấy về tôi chứ ai.

– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

Người kêu tên Phật chửi mà ngài không nhận. Còn chúng ta, những lời nói bóng, nói gió ở đâu đâu cũng lắng tai nghe, để buồn để giận. Như vậy, mới thấy những lờ cuồng dại của chúng sanh Ngài không chấp không buồn. Còn chúng ta do si mê, chỉ một lời nói nặng, nói hơn, ôm ấp mãi trong lòng, vì vậy mà khổ đau triền miên. Chúng ta tu là tập theo gương của Phật, mọi tật xấu của mình phải bỏ, những hành động lời nói không tốt của người đừng quan tâm, như thế mới được an vui. Nếu xưa kia tạo nghiệp ác, đáng lý trả bằng sự đánh đập, hoặc trả bằng tai nạn mất thân mạng. Nhưng nhờ biết tu nên chỉ bị mắng chửi hay bị trộm cắp mất tiền của. khi bị mắng chửi hay mất tiền của nên quán xét : Có thể nghiệp chướng của mình phải trả bằng tai nạn nặng nề khổ đau hơn nhiều, nhờ biết tụng kinh nên được chuyển nghiệp chỉ bị mắng chửi mất tiền của thì quá tốt. Xét như vậy, thì sự tu học mới tiến bộ, ngược lại, nghe nói đổ nghiệp cứ tin suông rồi hoảng sợ không tu nữa, là sai lầm.

Lại có những Phật tử quan niệm rằng : Đi chùa qui y biết tu rồi thì kể từ đây về sau, cuộc sống sẽ bình an không có gì trở ngại. Tu là phải hanh thông mọi việc, nếu có trục trặc thì thối chí nản lòng không tu. Chúng ta nhớ, tu là bỏ ác làm lành; một khi đã nguyện bỏ ác làm lành, thì ở trong đời nếu có tai nạn xảy ra, biết đó là nghiệp quá khứ còn rơi rớt lại, không sợ hãi, không thối chí, vững lòng tin mà tiến tu không thối chuyển. Đừng nghĩ tu là mọi nghiệp xấu sạch hết, mọi việc xảy ra đều như ý. Tu mà không chịu bỏ tham, bỏ sân, bỏ si mà cứ khoe “Tôi ăn chay một tháng mười ngày, mười lăm ngày v.v…” Ăn chay, ăn tương dưa là để chừa tham sân si. Có chừa bỏ được tham sân si thì tâm mới sáng suốt, tâm sáng suốt thì không nói bậy làm bậy, không nói bậy làm bậy thì nghiệp chướng tội lỗi theo đó mà giảm. Nếu không chừa bỏ tham sân si thì nghiệp chướng tội lỗi khó mà hết được.

Tuy nói tu thân, tu giới, tu tâm, nhưng chủ yếu là tu tâm. nếu tu tâm mà được viên mãn thì mọi nghiệp chướng không còn, mọi họa khổ sẽ hết, không phải trả nặng nề như lúc gây tạo. Nói nhân nào quả nấy là chưa chính xác, chưa tột lý nhân quả, vì chỉ đúng có một trường hợp là người không biết tu, còn đối với người biết tu thì không đúng.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 100: Lợi ích của thiền

Muốn ngồi thiền, trước chúng ta phải biết lý thuyết, sau mới thực hành được. Tại sao chúng ta phải ngồi thiền?

Phật dạy trong bốn oai nghi chúng ta đều tu được hết. Bốn oai nghi là đi, đứng, nằm và ngồi. Tuy nhiên trong số bốn oai nghi đó, các Thiền sư nói chỉ có ngồi là thù thắng hơn cả. Tại sao? Vì lúc bình thường, tâm nghĩ suy hơn thua, phải quấy của chúng ta dấy khởi liên tục. Chẳng những nó liên tục trong lúc bình thường, mà ngay cả khi sắp vào giấc ngủ, mình muốn không mà nó vẫn cứ nghĩ lung tung. Chừng nào mệt mỏi quá nó mới chịu nghỉ cho mình ngủ. Như vậy lâu nay chúng ta bị các thứ vọng tâm đó che đậy lôi kéo mãi.

Phật dạy tất cả chúng sanh luân hồi sanh tử là do nghiệp dẫn, mà nghiệp từ đâu ra? Từ thân, khẩu, ý. Tuy nói ba nghiệp nhưng thật tình ý nghiệp là chủ. Nếu ý nghĩ tốt thì thân làm tốt, miệng nói tốt; ý nghĩ xấu thì thân làm xấu, miệng nói xấu. Nên ý là chủ động. Nếu ý lặng thì nghiệp cũng theo đó mà dứt.

Tất cả phân biệt hơn thua phải quấy đều từ ý phát sanh. Ý nghĩ tốt, ý nghĩ xấu, ý nghĩ phải, ý nghĩ quấy v. v… Lâu nay chúng ta mê lầm cho ý đó là tâm mình và để cho nó chỉ huy, dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử. Chừng nào lặng những thứ suy nghĩ ấy, ta mới nhận ra mình vẫn nghe biết phân biệt rõ ràng mà không có sự can thiệp của ý. Đây chính là cái biết chân thật hiện tiền, sẵn có của mình. Nhưng vì bình thường chúng ta chạy theo vọng tâm nên quên mất nó. Cái biết này không tạo nghiệp, không tạo nghiệp thì làm sao luân hồi?

Cho nên tu là để giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử thì phải dừng hết các nghiệp, trước nhất là ý nghiệp, vì ý chủ động. Vì vậy mục đích chúng ta ngồi thiền là để cho ý lặng. Ý lặng rồi thì cái hằng tri hằng giác hiện tiền, chớ không phải mất mình. Tâm chân thật ấy không tướng, không động. Còn ý do duyên theo bóng dáng của ngoại cảnh như người vật mà có, nên nó lăng xăng lộn xộn hoài, rồi dẫn mình đi tạo nghiệp nữa.

Trọng tâm tu của chúng ta là để trở về với cái chân thật của mình. Nhà thiền nói chúng ta như người cỡi trâu đi tìm trâu hay cõng Phật đi cầu Phật, cứ cầu Phật ở ngoài mà quên đi ông Phật thật mình đang có. Đó là cái lầm đáng thương. Dưới con mắt nhà Phật, chúng ta không phải tìm Phật ở đâu, mà chính tâm hằng tri hằng giác của mình là tâm Phật.

Nhưng tâm đó hiện giờ đang bị những thứ nghĩ suy, phân biệt, hơn thua, phải quấy ngăn che liên tục. Cho nên chúng ta phải dẹp tâm lăng xăng đó để tâm thật hiện ra. Cũng như mặt trăng sáng trên hư không bị áng mây đen che nên tối. Nếu nhiều áng mây liên tục che như vậy thì chúng ta không thể nào thấy mặt trăng được. Ta không thấy mặt trăng, chớ không phải không có mặt trăng. Cũng như ta không thấy được Phật của mình, chớ không phải mình không có Phật.

Tọa thiền chính là để dừng tâm lăng xăng ấy lại. Lâu nay nó làm chủ mình, bây giờ ta giành quyền làm chủ lại. Không chạy theo nó nữa thì nó phải dừng. Chúng ta làm chủ được ý niệm lăng xăng đó là chúng ta làm chủ được nghiệp. Ngược lại, nếu để nó làm chủ mình thì khi nhắm mắt nó dẫn mình đi đâu mình cũng phải chạy theo nó, không cưỡng lại được.

Vì vậy ý nghĩa của ngồi thiền rất quan trọng. Ngồi thiền để làm Phật chớ không phải ngồi thiền để chơi, hay ngồi thiền theo dưỡng sanh cho khỏe mạnh. Ngồi thiền là từng bước dừng nhân tạo nghiệp. Nhân tạo nghiệp sạch thì nghiệp sạch. Nghiệp sạch thì giải thoát sanh tử. Khi đó cái hằng tri hằng giác của mình hiện bày. Cái đó không bị nghiệp dẫn nên nó giải thoát sanh tử. Sống được với cái đó thì chúng ta không còn khổ trong luân hồi nữa. Đó là chỗ cứu kính của việc tu tập tọa thiền.

Chúng ta thường xem người điên là những người đáng thương, nhưng không ngờ mình lại giống hệt người điên. Bởi vì những chuyện đâu đâu năm trên năm dưới, cứ lảm nhảm trong đầu hoài. Người điên nói ra miệng, còn mình thì nói thầm thầm bên trong. Hết chuyện này tới chuyện kia, chuyện gì mình cũng nghĩ được, cũng nhớ được. Cứ như vậy mà lảm nhảm suốt ngày, không yên được một phút nào. Nghĩ nhiều, suy tính nhiều thì nặng đầu, như vậy tự mình làm khổ mình, chớ có ai vô đó đâu.

Bây giờ chúng ta chưa dừng được hoàn toàn những thứ nghĩ tạp nhạp ấy, nhưng nếu làm chủ được phần nào, đầu mình nhẹ chừng đó. Người suy nghĩ nhiều thì có nhiều chuyện, có khi những chuyện không đáng nghĩ vẫn cứ nghĩ luẩn quẩn mãi, đến chừng có chuyện cần phải nghĩ thì nghĩ không ra. Con người thường kỳ lạ như vậy.

Chỉ khi nào những thứ nghĩ lộn xộn dừng lại, tâm thanh thản thì trí tuệ mới sáng, chừng đó cần nghĩ là ta nghĩ được ngay. Cho nên nhiều người nói "Con có lỗi khi ngồi thiền thường giải quyết những vấn đề mà ở ngoài chưa giải quyết được". Vì giải quyết được nên cứ ngồi đó giải quyết hoài, thành ra quên tu. Đó là một lẽ thật. Tại vì khi ngồi thiền, tâm hơi yên một chút, bỗng nhớ lại vấn đề trước kia mình bế tắc, bây giờ tự nhiên sáng ra, thấy rất rõ. Thấy hay quá, nên mình lo giải quyết mà quên mất mục đích chính của mình là ngồi cho tâm yên.

Như vậy để thấy rằng mục đích tu của chúng ta là để tâm được tĩnh lặng. Tâm được tĩnh lặng thì trí sáng. Như nước ở dưới hồ đục, chúng ta múc đổ vào lu. Sau một thời gian từ sáng đến chiều, nước lóng lại trở nên trong. Nước trong không phải chỉ do mình lóng, mà bản chất của nước là trong. Nó đục là vì lẫn những cặn bã li ti. Cặn dừng lại, lóng xuống thì nước trong trở lại. Mặt nước đục thì cảnh không hiện được. Mặt nước trong mới hay hiện rõ tất cả cảnh bên ngoài. Nước trong tức là sáng, nước đục tức là tối.

Chúng ta ngồi thiền là để lóng những cặn bã trong tâm xuống. Cặn bã lặng rồi thì tâm an. Tâm an thì trí sáng. Đó là kết quả gần nhất của việc ngồi thiền. Còn kết quả xa, kết quả cuối cùng là giải thoát sanh tử. Người tu Phật mà không chịu ngồi thiền là một thiệt thòi lớn. Bởi vì tâm lăng xăng không yên thì nghiệp dẫn hoài. Nghiệp dẫn thì phải trầm luân sanh tử không có ngày cùng.

Người tu thiền chẳng những tâm được yên, trí sáng mà cơ thể lại tốt nữa. Cuộc sống lúc nào cũng vui tươi, không buồn không khổ. Thường mỗi khi chúng ta nghĩ tới người mình ghét thì mặt cau lại, nghĩ tới người mình giận thì mặt đỏ lên, nghĩ tới người mình thương thì tự nhiên muốn rơi nước mắt v. v… Cứ như vậy nên cả ngày gương mặt chúng ta thay đổi không biết bao nhiêu lần. Chỉ khi không nghĩ gì hết thì gương mặt mình mới bình thản, an nhiên, tươi tỉnh. Đó là lợi ích cụ thể, gần nhất của người tu thiền.

Tâm đã an thì tự nhiên thân ít bệnh. Người có mối sầu lo trong tâm, thân rất dễ sanh bệnh. Bệnh sầu lo các bác sĩ sợ lắm, vì dù có thuốc hay cũng không trị nổi. Chỉ biết tu thì sầu lo mới giảm, mới dứt được. Đó là một lẽ thật. Hiểu như vậy mới thấy giá trị của việc ngồi thiền. Người không hiểu thường hay phê bình: "Làm gì mà ngồi lim dim hoài! " Có nhiều người chỉ trích rằng, tôi dạy Tăng Ni, Phật tử không làm gì hết, cứ ngồi lim dim lim dim suốt ngày thật vô ích. Người nhìn cạn thấy ngồi thế như vô ích, nhưng sự thật đó là việc làm hết sức quan trọng.

Chúng ta suốt ngày hay suốt đời cứ chạy ra ngoài mà chưa bao giờ nhìn lại mình. Khi nhìn lại rồi mới thấy mình là cái gì, mới biết những niệm lăng xăng chợt sanh chợt diệt không phải thật mình. Lâu nay do mê lầm, chúng ta nhận đó là mình. Đến khi cái sanh diệt ấy dừng lại, ta mới nhận ra được còn có một cái tối quan trọng, không sanh không diệt, luôn tỉnh sáng và hiện hữu bên mình. Đây mới chính thật là mình. Nhận ra như thế là tìm lại được trân bảo nhà mình từ lâu đã quên mất. Một việc làm như vậy mà có thể nói vô ích được sao!

Ở đây, tôi chỉ nói khái lược về ý nghĩa và lợi ích của việc tu tập tọa thiền như thế thôi. Quí vị muốn biết hết giá trị của nó thì hãy từng bước đi vào thực tập. Chừng ấy, như người uống nước nóng lạnh tự biết, đâu thể nói tới được.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 101: Quy y Tam Bảo

Nói tới qui y Tam Bảo là nói tới gieo hạt giống đời đời không mất, không quên. Đó là chúng ta gieo nhân để đời đời gặp lại Tam Bảo. Người nào có duyên với Tam Bảo đời này, đời sau được gặp Tam Bảo, liên tục tu hành thì sẽ tiến. Phước chỉ dẫn tới chỗ thụ hưởng, còn đạo đức mới đưa ta tới sự an vui chân thật, lâu dài. Nếu không có gốc đạo đức, phước hưởng rồi sẽ hết, ta lại bị đọa theo các nghiệp ác đã tạo.

Người biết tu thì biết sửa đổi sai lầm, luôn tỉnh giác và đánh thức mọi người cùng tỉnh giác, như vậy cuộc sống mới có giá trị. Nếu cả cuộc đời mấy chục năm, sống trong u tối thì thật vô nghĩa. Đời này qua đời khác, cứ chồng chập như vậy thì khổ não biết bao nhiêu. Phật bảo được thân người là khó, như rùa trăm năm mới gặp bọng cây giữa biển khơi.

Tuy thân này hư tạm, nhưng nếu chúng ta biết lợi dụng nó, để tu hành thì sẽ vượt thoát khỏi dòng sanh tử, sống với Pháp thân chân thật, muôn đời không sanh diệt. Giống như rùa mù nương bọng cây được vào bờ. Ngày nào sống là một ngày thức tỉnh, ngày nào sống là một ngày an lạc. Khi không còn nghĩ chuyện tốt xấu, phải quấy ta sẽ thấy vui. Vui thế nào? Tất cả niệm hơn thua phải quấy không khởi thì gương mặt mình lúc nào cũng tươi sáng, đó là cái vui chân thật. Còn vui hỉ hạ là cái vui của thế gian, không chân thật. Nhưng người đời luôn tìm vui trong cái hơn thua được mất để rồi phải chịu đau khổ không cùng.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 102: Đến để thấy

Trên bước đường tu tập của chúng ta, muốn khỏi bị chướng ngại thì phải xoay lại chính mình, tự kiểm điểm từng tâm niệm để xét nét những lỗi lầm khi tâm vừa dấy khởi. Nếu tu hành như vậy, chúng ta đâu có thì giờ rảnh rỗi để nghỉ đến lỗi lầm của kẻ khác. Người dụng tâm như vậy tiến đạo không khó. Phật gọi người này là “ người chân thật ”. Trái lại, người ôm lòng chấp ngã, bươi móc lỗi người che dấu cái hay, cái tốt của kẻ khác, chính là kẻ tà vạy, không phải người chân chính.

Ở thế gian này người ta rất dễ tin, nghe đâu có việc linh thiêng liền tin và tìm đến. Hoặc theo một tôn giáo nào thì cứ một bề theo tôn giáo đó mà không chịu hiểu lời dạy của tôn giáo đó có phải chân lý hay không? Hoặc theo một học thuyết thì chấp cứng theo chủ trương của học thuyết mình là chân lý cao tột, không chịu tìm hiểu cái hay cái đẹp của học thuyết khác. Lại có khi vì cảm tình riêng, vì truyền thống lâu đời, vì một uy quyền, một thế lực mà cúi đầu tin theo một cách mù quáng vô điều kiện.

Vì thế nên đức Phật thường nhắc các môn đồ: Trước khi tin một điều gì phải xét nét kỹ lưỡng rồi sẽ tin, dù là một truyền thống để lại, dù do kinh điển lưu truyền, dù là một đấng Đạo Sư nói ra v.v… cũng chớ vội tin. Mà phải tin những gì do tự mình chứng nghiệm được, nó hợp với lẽ phải, đúng với chân lý và đem lại sự an lạc hạnh phúc cho mình, cho mọi người hiện tại và mai sau.

Chúng ta phải có cái nhìn đúng như vậy mới hợp với tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Đó là chúng ta đến để mà thấy, chứ không phải đến để tin, đúng như điều Phật thường nhắc.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 103: Sử dụng thân người khó được để tiến tu

Chân tâm có sẵn, chỉ vì ta chạy theo vọng tưởng nên không nhận ra. Bây giờ đừng chạy theo vọng tưởng nữa thì Chân tâm hiện tiền, có mất thiếu chỗ nào đâu! Thế nhưng không hiểu sao chúng ta lại không chịu bỏ vọng tưởng? Bởi vì con người quen sống điên đảo rồi. Bởi từ điên đảo nên không thấy được chí đạo.

Tu Thiền, tu Tịnh cốt diệt tâm điên đảo ấy. Niệm Phật tới nhất tâm thì điên đảo đâu còn. Tu Thiền buông sạch hết, không còn một niệm thì tâm điên đảo đâu còn. Như vậy vô niệm tức là chí đạo, chớ không gì khác. Vì chúng ta không đi sâu trong đó, không sống được chỗ đó, nên mất “chí đạo”. Cho nên tu không tìm gì ở đâu xa, mà cứ trở về gốc chí đạo, chớ không chi hết.

" Như mình đi chiếc xe cũ, lâu quá nó hư mòn, cứ đẩy hoài rất chán. Bây giờ mình dành dụm tiền, bỏ xe cũ mua xe mới đẹp hơn. Như vậy buồn hay vui? Nhưng muốn mua xe khác đẹp hơn thì phải chuẩn bị tiền. Chuẩn bị trước rồi mới bỏ xe cũ mua xe mới được. Chớ không chuẩn bị thì xe cũ bỏ rồi, không biết làm sao mua xe mới. Cho nên người biết tu là người biết lo xa, biết chuẩn bị sẵn; bỏ thân này qua thân khác khỏe hơn. Đó là bước tiến của người tu."

Tôi tha thiết nhắc tất cả quí Phật tử nhớ rõ “thân người khó được”. Chúng ta được rồi thì phải ráng giữ gìn cho tốt và tạo duyên cho mai sau càng tốt hơn, chớ đừng thả trôi. Phật pháp khó nghe, ngày nay chúng ta được nghe rồi phải nhận định chín chắn và thực hành. Có thực hành mới thấy lợi ích thiết thực, nếu không thực hành dù nghe bao nhiêu kinh, đọc bao nhiêu sách cũng không đi tới đâu hết.

Mong tất cả Phật tử khéo sử dụng thân khó được này cho nó xứng đáng. Phật pháp khó nghe này mà chúng ta lãnh hội được để ngày mai tiến lên, không làm Hiền Thánh ít ra ta cũng được làm người tốt hơn đời này. Đó là lợi ích của người biết nghe Phật pháp.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 104: Thầy của Trời Người

Khi tu đến kết quả thành Phật thành Tổ, thì lúc đó sẽ làm thầy cả trời người. Còn chúng ta hiện nay tu lại mong mỏi được chư thiên ủng hộ, mà nếu chư thiên ủng hộ thì mình là bạn bè với chư thiên, chớ không được làm thầy, vì làm thầy thì không cần ủng hộ, cần ủng hộ thì không phải là thầy họ, có khi ngược lại. Cũng như có người đi cầu quỉ thần ủng hộ thì người đó là thầy của quỉ thần hay là đồ đệ của quỉ thần. Cũng vậy, nếu ai muốn được quỉ thần ủng hộ tức là bạn bè hay đàn em cháu của quỉ thần, còn ai muốn được chư thiên ủng hộ, đó là huynh đệ của chư thiên, có lẽ làm đệ là đúng hơn. Còn ở đây nếu chúng ta tu đến chỗ cuối cùng, là làm thầy của chư thiên nữa. Vì vậy nên khi Phật thành đạo thì chư thiên đến qui y thỉnh Phật về cung trời giảng pháp v.v… Như vậy có phải là thầy của chư thiên chưa.

Như vậy Phật Tổ đều làm thầy của cả trời người, chớ không phải chỉ làm thầy cho người thôi. Bởi vậy trong lễ qui y có câu, qui y Phật không qui y thiên { Trời }, thần, quỉ, vật. Vậy mà hiện nay có nhiều người tuy đã qui y Phật rồi, nhưng thiên họ vẫn kính, thần họ vẫn thờ, quỉ họ vẫn nể. Như vậy những người đó chưa hiểu được giá trị thật của Phật, của Tổ. Đó là chỗ chúng ta phải hiểu cho thật rõ. Không phải chúng ta ngạo mạn, nhưng vì đức Phật và chư Tổ đủ khả năng để dạy bảo hướng dẫn cho chư thiên tu hành, thì chư thiên đối với Phật thì chư thiên là đệ tử, chúng ta cũng là đệ tử Phật. Như vậy chư thiên với chúng ta cũng không khác bao nhiêu, chỉ có phước hơn chúng ta chút thôi. Cũng như người giàu có qui y với thầy, người nghèo khổ qui y với thầy, tuy giàu, nghèo có khác nhưng cùng qui y một thầy mà một thầy tức là đồng sư. Vậy điều vô lý là đồng sư mà trở lại qui y với họ. Bởi vậy chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa thiên nhân chi sư là thầy cả trời người là thế ấy.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 105: Không dính mắc sáu trần

Chúng ta phải hiểu rõ rằng bố thí là ban cho, là buông xả, trụ là dính mắc. Chúng ta phải buông xả đừng có dính với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đó là bố thí. Không trụ như vậy tâm mới trụ. Sở dĩ tâm chúng ta động, loạn là vì nó chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bởi dính với sáu trần nên tâm mới loạn, , nó kẹt nơi sắc, kẹt nơi thanh, nơi hương, vị, xúc, pháp. Do kẹt trong sáu trần nên tâm chúng ta cứ loạn mãi, bây giờ chúng ta bố thí tức là buông xả không dính với sáu trần nữa thì tự nhiên tâm an trụ. Như vậy khi chúng ta an trụ là lúc chúng ta không dính với sáu trần, nếu còn dính với sáu trần là chưa trụ. Thí dụ trên bàn có sáu, bảy món nào ly, nào bao kiếng, nào khăn, đồng hồ v. v… trong sáu thứ đó, nếu tay tôi nắm một thứ là tôi dính một cái, phải không? Dính một cái thì khi ấy tâm tôi an trụ hay bất an? Dính một cái tức là tôi đang cầm, đang chấp. Cầm chấp tức là động chứ đâu có an được. Còn cả sáu cái, tay tôi đều không dính thì sao? Tức là tay tôi để một chỗ, nó không động. Nếu dính một cái là động rồi. Thế nên nói không trụ mà chính là trụ. Không trụ nghĩa là không dính tất cả sáu trần, đó mới thật an trụ.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 106: Độ mình rồi mới độ người

Người đời khổ vì mắt thấy sắc cho là đẹp, muốn được về mình, không được thì buồn. Tai nghe tiếng hay muốn nghe tiếng đó tiếp tục mãi, không được cũng buồn. Lưỡi thích vị ngon nên đưa vị dở vô cũng buồn. Chúng ta cứ đuổi theo, đòi hỏi năm trần thành ra khổ. Nếu mình không dính mắc gì hết, không có niệm đuổi theo nó thì cứ đói ăn miễn no là được, không cầu ngon chê dở, mệt ngủ không suy nghĩ, tính toán hơn thua, miễn sao tâm được nhẹ nhàn thanh tịnh. Tu tức là tìm nguồn an lạc trong tâm, chớ không phải có nhiều tiền nhiều của. Tu là buông xả chứ không phải tu là để thu vào. Ai nói tu mà sắc đẹp cũng thích, tiền của cũng tham, danh lợi không buông được, ăn ngon cũng thích, ngủ ngày ngủ đêm vậy tu là tu cái gì. Thật đáng thương cho người thời nay tu mà không hiểu cứ chạy đuổi theo dục lạc của thế gian rồi than van khổ sở.

Nếu những vọng tưởng của chúng ta đang điên cuồng chạy ngược, chạy xuôi theo có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng… theo tất cả hình tướng bên ngoài, bây giờ chúng ta đưa nó vào vô dư Niết-bàn, vào chỗ lặng lẽ không sanh diệt, tâm chúng ta không còn loạn nữa, đó là chúng ta hàng phục được tâm.

Hiểu như vậy chúng ta mới tu được. Như thế chúng ta mới thấy rõ đức Phật thành Phật trong khi tất cả chúng sanh vẫn còn. Ngài hàng phục được tâm của Ngài nên mới được đến chỗ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như bây giờ chúng ta vừa phát tâm tu thì chúng ta cũng hàng phục như vậy, lần lần tâm an định chúng ta mới tiến bộ được. Nếu cứ lo độ chúng sanh ở ngoài trong khi chính mình chưa độ được mình thì độ được ai?

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 107: Mình tốt rồi lan tới mọi người xung quanh

Người đời đa số đối với ba việc ăn, mặc, ngủ thường mê thích không thôi. Ngày qua tháng lại, sực nhớ thì tóc đã bạc rồi ! Người thế gian đối với việc ăn thì chạy đua tìm món ngon vật lạ. Còn mặc thì nay quần này, mai áo nọ thay đổi luôn luôn. Ngủ thì phải làm sao cho êm ấm, ngủ cho ngon. Suốt cả cuộc đời chỉ lo ăn, mặc, ngủ ! Có nhiều người nói có vẻ cao thượng, nào là lo cho gia đình, xã hội v.v… nhưng chung qui cũng vì bản thân mình trước đã, mà vì bản thân mình cũng là vì cái ăn. Nói thế nghe tầm thường quá, song quí vị thử xét lại rồi sẽ thấy trên thế giới này, người ta đã gieo rắc bao thống khổ cho nhau, cũng chỉ vì miếng ăn mà ra cả. Nhân loại vì tranh ăn mà phải đắm chìm trong chiến tranh khổ não chẳng những riêng loài người mà tất cả chúng sanh đều như thế. Hầu hết nguyên nhân các cuộc đấu tranh đều là vì miếng cơm manh áo. Người đời vì say mê theo đó để ngày tháng trôi qua, phút chốc bạc đầu. Còn chúng ta là người thức tỉnh thì phải khác hơn chứ đừng như thế. Nếu cứ mãi lo ăn mặc ngủ mà không chịu tiến tu thì thật đáng hổ thẹn !

Chủ yếu của đạo Phật là tu từ tự tâm của cá nhân. Tự tâm cá nhân thanh tịnh rồi sẽ lan dần ra người ngoài. Nhiều người hiểu lầm trước lo cho tất cả mọi người được tốt, đi giáo dục người này người kia dạy họ phải tốt, nhưng mình chưa thật tốt mà muốn cho mọi người chung quanh tốt không thể được. Muốn cho mọi người tốt, trước hết chúng ta phải tốt, rồi gia đình chúng ta tốt, tới làng xã chúng ta tốt, đến cả nước chúng ta cũng tốt thì thế giới mới tốt. Như vậy, chủ yếu muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp là trước hết phải xây dựng cá nhân. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy người tu phải phản quan tự kỷ, phải nhìn lại mình. Nếu tâm mình chưa thanh tịnh mà cứ thấy người này sai, người kia dở, lo xây dựng, chỉ chuốc thêm phiền não chứ không ích gì.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 108: Tu là lợi mình lợi chúng hữu tình

Đạo Phật thấy thế nào nói như thế ấy, chớ không lừa bịp chúng sanh. Ví dụ thấy người xấu mình nói xấu, nếu họ biết nghe lẽ thật thì không làm điều bậy xấu nữa. Còn nếu họ xấu mà ta cứ khen tốt, họ tưởng những việc xấu của họ không ai thấy nên cứ làm xấu mãi. Như vậy nói thật với nói gạt nhau, cái nào tốt? Nói thẳng sự thật người ta nghe sợ, nhưng tránh được những điều xấu dở, đó là cứu người. Còn không dám nói lẽ thật, mà nói để được lòng, vô tình ta dung dưỡng những tội lỗi xấu xa của người, như vậy là hại nhau. Ai cũng than ở đời khó quá ! Tại sao khó? Tại ai cũng sợ sự thật .

Từ sự vật cho đến thời gian, không gian cũng không có cái gì là thật. Về thời gian chúng ta đã đặt ra thời quá khứ, thời hiện tại, thời vị lai. Khái niệm về thời gian được căn cứ trên sự quay của trái đất, rồi phân định ra ngày tháng năm, thời tiết v.v… Như vậy thời gian không có thật, huống nữa là trên thời gian không thật đó lại đặt ra ngày giờ tốt xấu v.v… Trên cái mê thêm một lớp mê khác, trên cái lầm thêm một lớp lầm nữa, thành tập quán quen thuộc ngàn đời không dám bỏ. Cho đến việc gầy dựng gia đình, xây cất nhà cửa cũng phải coi ngày tốt xấu. Nhất là các Phật tử, trước khi làm việc gì cũng đến chùa nhờ thầy cô xem lịch, lựa ngày tốt cho công việc được tốt đẹp. Nhưng thử hỏi có gia đình nào nhờ xem lịch mà được hạnh phúc suốt đời hay không? Có nhà cửa nào nhờ xem lịch mà suốt đời không bị hư hao hay không? Đó rõ ràng là chuyện vô thường ở thế gian. Chúng ta phải gan dạ thấy lẽ thật ấy, dùng trí tuệ mà tìm ra lẽ thật, không nên tin tưởng một cách mù quáng.

Tôi thường dạy Phật tử tu là cốt chuyển đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý. Cho nên nói tới tu là nói tới sự chuyển hóa, biến cái dở xấu trở thành cái hay tốt. Nói cụ thể hơn về tu ba nghiệp nghĩa là ngày xưa chưa biết tu vị đó sát sanh, trộm cắp, tà dâm v.v… Bây giờ biết tu rồi thì không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Nếu tích cực hơn, hồi xưa vị đó sát sanh, bây giờ biết tu rồi chuyển lại chẳng những không sát sanh mà còn phóng sanh, không phạm tội trộm cắp mà còn tập hạnh bố thí, không tà dâm mà còn khuyến khích những người chung quanh giữ hạnh trinh bạch. Hồi xưa chưa biết tu ta nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt vô nghĩa. Bây giờ chặng đầu của sự tu là bớt nói dối, bớt nói hai lưỡi, bớt nói hung dữ, bớt nói thêu dệt. Qua chặng thứ hai phải tiến lên, khi xưa mình nói dối thì bây giờ luôn luôn nói lời chân thật; khi xưa nói hai lưỡi tức nói ly gián, bây giờ nói lời hòa hợp; khi xưa nói lời hung dữ ác độc, bây giờ nói lời hiền hòa nhã nhặn, khi xưa nói lời thêu dệt vô nghĩa, bây giờ nói lời hợp lý.

Ngày xưa tâm ý nhiều tham, nhiều sân, nhiều si, bây giờ bớt tham, bớt sân, bớt si, đó là chặng số một. Qua chặng thứ hai, chẳng những bớt tham mà còn tập thương người cứu vật, chia xẻ giúp đỡ kẻ cơ hàn. Chẳng những bớt sân mà còn tập trải lòng từ bi đến khắp mọi người. Chẳng những bớt si mà còn tập mở mang trí tuệ theo chánh pháp. Như vậy thay vì tham sân si, bây giờ đổi lại thành bố thí, từ bi, trí tuệ. Đó là tu.

Nếu một Phật tử, bản thân không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, bớt tham sân si, như vậy có lợi ích chưa? Bản thân có lợi ích cụ thể rồi. Nếu một thành viên trong gia đình tốt như vậy, tự nhiên gia đình cũng an vui, xã hội cũng tốt theo. Rõ ràng việc tu có lợi ích thiết thực cho mọi người và xã hội.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 109: Không nên chê bai Pháp môn tu của người

Trong Phật giáo, chia ra nhiều giáo phái, nhiều pháp môn. Tại sao như thế? Vì đức Phật thấy rõ trình độ, căn cơ của chúng sanh sai biệt, không ai giống ai. Kẻ sống bằng tình cảm thì Ngài dạy lấy lòng tin để hướng dẫn họ tu. Người sống bằng trí tuệ thì Ngài dạy lấy trí tuệ làm hướng tu cho họ. Người thích linh thiêng Phật dạy thần chú v.v… đủ cách để độ hết mọi người. Mỗi pháp môn Phật dạy, nếu chúng ta tu đúng thì kết thúc cũng gặp nhau. Nhưng ngược lại khi bước vào mỗi pháp môn, tuy biết đó là Phật dạy, mà bên này chọi bên kia. Người khác tu không giống mình là không ưa rồi, có khổ chưa? Mình với mình một thầy mà không ưa nhau, tại sao vậy? Vì ý tưởng không rập khuôn theo mình. Không rập khuôn theo mình thì mình không ưa. Như vậy có phải chúng ta mang bệnh độc tài không?

Phật đã biết chúng sanh có nhiều trình độ, nhiều căn cơ nên mới dạy nhiều pháp môn. Trong kinh thường dụ pháp của Phật như những phương thuốc trị tâm bệnh cho chúng sanh. Chúng sanh có trăm ngàn căn bệnh hay trăm ngàn tâm bệnh thì Phật có trăm ngàn pháp môn để chỉ dạy họ tu, đạt được lợi ích. Tại sao chúng ta là con cháu Phật mà không có tâm rộng rãi ? Lẽ ra chúng ta nên khuyến khích, ai tu pháp môn nào cũng phải tu đến nơi đến chốn, đừng nói ai hay ai dở. Đằng này ngược lại, chung trong đạo Phật với nhau, mà người này chỉ trích kẻ nọ, luôn luôn tìm cách kích bác lẫn nhau. Vậy nói sao đây? Người tu mà không thông cảm, không hiểu được nhau, có đáng buồn không? Ai tu pháp môn nào cứ bám vào pháp môn ấy cho là chân lý, là chánh; người khác tu không phải chân lý, là tà. Rồi cho mình tu hay, người kia tu dở, sanh ra chống đối nhau, rồi làm khổ cho nhau.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 110: Biết thân này là giả thì nên thương yêu nhau

Chúng ta đang đi đứng là sống còn, vừa có cái gì bất trắc ngã đùng ra chết thì mất. Thấy đó liền mất đó thì có thật được không? Vậy mà chúng ta ngỡ là thật, không mê sao được! Mê là mê như vậy. Bởi cho thân này thật nên quí thân, những gì nó ưa thích đều muốn được thỏa mãn. Mình muốn thân mình thỏa mãn, người khác cũng muốn thân họ thỏa mãn, tất cả đều muốn vậy thành ra giành giựt nhau. Nhỏ giành giựt theo nhỏ, lớn giành giựt theo lớn. Như anh em trong gia đình, cha mẹ chết chia của cải, anh nhiều em ít không chịu, phải giành phần cho bằng cho hơn, không chịu thua. Vì vậy thấy thân thật là nhân đau khổ. Đó là nói chuyện trong một gia đình. Nói rộng hơn như vua một nước, nếu thấy thân thật thì giang sơn cũng thật. Muốn cho dân mình sung sướng thì thấy nước nào tài nguyên phong phú liền đem quân đi chiếm, đó là nhân giặc giã. Do thấy sai lầm nên lòng tham nổi dậy, gây tai hại lớn lao cho nhân loại. Đó là hiểm họa đang lan tràn trên thế gian, không yên ổn chút nào hết.

Ngược lại, nếu thấy thân giả thì sao? Đa số sẽ nói tiêu cực. Giả thì lo chi, cần gì làm việc. Bồ-tát thấy thân mình giả, thân chúng sanh giả, các ngài lăn xả vào đời cứu độ chúng sanh không niệm ngán sợ. Tại sao? Cái giả mà chúng sanh lầm cho là thật nên giành giựt, giết hại lẫn nhau, các ngài có bổn phận phải đánh thức họ, chỉ cho biết giả đừng lầm lẫn nữa. Như vậy các ngài càng biết giả càng thương những người mê. Chúng ta thấy thân thật nên ít thương ai. Chỉ thương những người thân thuộc của mình, còn chung quanh mặc kệ, không thương. Bồ-tát thấy cuộc đời tạm bợ, con người có đó rồi mất đó, không bền lâu mà chúng sanh lại chìm đắm đau khổ trong ấy nên các ngài dấy khởi lòng từ bi muốn cứu độ chúng sanh. Nhờ giác ngộ mới có từ bi, nếu không giác ngộ sẽ không có từ bi.

Chúng ta làm việc thiện nhưng không phải từ bi mà là ích kỷ. Ví dụ nói bố thí giúp người nghèo, sau sẽ được phước giàu sang. Như vậy bố thí vì mình chớ không phải vì người. Bố thí ấy không phải từ bi. Từ bi là vì người chớ không vì mình. Chúng ta mê lầm ở chặng thứ nhất là thấy thân này thật, nên cấu xé giành giựt, làm khổ cho nhau. Nếu thấy thân giả thì anh em trong nhà có mặt đây tạm bợ vài chục năm rồi cũng đi, tranh gia tài làm chi, thôi thì chia nhau sống tạm mà. Đối với xã hội cũng vậy, mọi người cùng sống trong cõi tạm, biết rõ như vậy thì phải bảo bọc nhau sống ngày nào vui ngày ấy, giành giựt chi cho khổ. Nhờ biết đúng lẽ thật, chúng ta dễ thương nhau hơn. Đó là lẽ thật người Phật tử phải biết.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 111: Tâm niệm thiệc và ác

Người dùng lời hiền hòa chỉ bảo dạy dỗ chúng ta, nhà Phật gọi là thiện hữu tri thức. Ngược lại những người rầy rà mắng chửi chúng ta, nhà Phật gọi là ác tri thức. Nghe nói ác là mình không ưa, điều này hầu hết Phật tử đều nhìn nhận như vậy. Nhưng nhà Phật không nghĩ thế. Bởi vì với người tu, nhất là tu Phật, chúng ta không nên nhìn một mặt, mà phải nhìn thấu suốt toàn diện. Khi gặp khó khăn, những lúc thối chí, chúng ta phải nhờ thiện hữu tri thức hiền lành an ủi nhắc nhở, mới cố gắng vươn lên được. Nhưng khi tu hành an ổn, tự thấy như mình đạt đạo tới nơi thì tâm sanh kiêu mạn, tự hào. Trong trường hợp này nếu không có cơ hội cảnh tỉnh thì chúng ta rất khó thức tỉnh, cho nên phải có ác tri thức thử thách để hỗ trợ.

Nội tâm chúng ta đối nghịch nhau rất là phức tạp. Ở đây tạm chia tâm niệm thiện và tâm niệm ác đối nghịch nhau. Song khi niệm ác dấy lên thì niệm thiện ẩn đi, ngược lại khi niệm thiện dấy lên thì niệm ác trốn mất, hai thứ đối nghịch mà không đồng thời. Vì thế nếu biết tu, chúng ta luôn luôn nuôi dưỡng niệm thiện thì niệm ác lặn mất. Nếu người không biết tu, cả ngày dung chứa niệm ác thì niệm thiện không bao giờ xuất hiện. Nuôi dưỡng niệm thiện là bậc Hiền Thánh, dung chứa niệm ác là kẻ bạo tàn. Chúng ta trọn quyền tạo lập cho mình một chỗ đứng vào hàng thánh thiện, cũng chính chúng ta tự bước lùi vào hang quỉ, chỗ thú cầm. Không ai bắt buộc, không ai lôi kéo chúng ta đến nơi này hay nơi nọ. Do đó, đức Phật dạy chúng ta tu quán Từ bi để trừ tâm sân hận, quán Tứ niệm xứ để diệt mê lầm, hoặc niệm danh hiệu Phật để át tạp niệm… Chúng ta có đủ khả năng làm Hiền Thánh, chúng ta cũng có đủ chủng tử ngạ quỉ, súc sanh. Bởi vậy nói tu tâm là chúng ta khéo điều phục những tâm niệm xấu ác, nuôi dưỡng những tâm niệm hiền thiện. Khi sắp lâm chung, những tâm niệm nào mạnh sẽ lôi chúng ta đến cảnh tương xứng. Vì tâm niệm là gốc của luân hồi sanh tử.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 112: Khéo tu thì an lạc đến

Trọng tâm của đạo Phật là chỉ cho chúng ta si mê là nguồn gốc của đau khổ. Cho nên muốn hết khổ phải bứng tận gốc si mê. Vì si mê nên chúng ta tạo nghiệp, nghiệp này chưa hết tạo nghiệp khác, như vậy mãi mãi đi trong luân hồi không có ngày cùng. Nếu thức tỉnh chúng ta dừng được nghiệp, thì có ngày giải thoát sanh tử. Đó mới thật là hết khổ. Vì thế nhà Phật lấy giác ngộ để độ chúng sanh, làm sao cho mọi người đều tỉnh, đều giác thì mới hết khổ. Còn giúp nhau trong sự mê muội, hết khổ này sang khổ khác, không bao giờ hết khổ. Ý nghĩa cứu khổ sâu thẳm nhất, là cứu cho mình và tất cả chúng sanh hết si mê.

Con người sống trong tưởng tượng nhiều hơn lẽ thật. Cứ nghe những lời vuốt ve, tán thưởng rỗng thì vui, còn lời nói thật lại buồn trách. Như vậy mới thấy chúng ta tu mà chưa giác. Nếu giác thì dù nói khổ, nói vui gì cũng biết nói rỗng. Chẳng qua mình tạo nghiệp lành hay dữ nên phải thọ quả, chớ có ai nói mà thành tốt xấu cho mình được. Chúng ta không cầu cúng, mong mỏi Phật ban cho cái này, cái nọ mà phải thật tâm chỉnh sửa lại cái xấu dở thành cái hay tốt, đó mới là thật tu.

Phật dạy chúng ta biết các hành đều vô thường, đều là pháp sanh diệt. Chúng ta đừng cố chấp, đừng luyến tiếc, đừng quá thương yêu, mà phải làm sao cho tất cả những thứ sanh diệt đó lặng hết, thì tịch diệt là niềm vui an lạc sẽ đến với chúng ta. Trong nội tâm của mình, nếu cứ lo nghĩ chuyện này chuyện kia dồn dập, lúc đó gương mặt mình héo sầu. Ngược lại, nếu tâm mình thơ thới, không có một niệm lo nghĩ nào hết, lúc đó gương mặt mình tự nhiên được tươi vui. Như vậy, cái sanh diệt lặng rồi thì tịch diệt (nguồn vui) hiện tiền. Nên người khéo tu lúc nào cũng tìm cách đưa tâm sanh diệt của mình đi đến chỗ lặng lẽ. Đó là nguồn an lạc lớn lao nhất của người tu.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 113: Không chấp liền an

Thấy được chữ Không của Bát-nhã rồi thì chúng ta dễ tu. Bởi vì chúng ta đang mắc bệnh chấp không. Nói tất cả pháp không có chủ thể liền chấp không ngơ. Nếu ai chấp không ngơ là lầm, bởi sự vật đang có giả tướng hiện tiền làm sao nói không được. Cho nên chúng ta phải hiểu rõ, Không là không chủ thể, không cố định, chớ lầm là không ngơ. Hiểu như vậy chúng ta sẽ không còn chấp nữa.

Tất cả sự vật đến với ta, ta không chấp thì dễ tu biết mấy. Mình có phải khổ sở để dẹp nóng giận, dẹp phiền não không? Sở dĩ chúng ta phiền não, chúng ta nóng giận là vì chúng ta chấp nó thật. Nếu biết rõ nó không thật, chỉ tạm bợ do duyên hợp thì có gì mà chấp. Do không chấp nên thảnh thơi tự tại đi giữa cuộc đời mà chúng ta không dính mắc gì cả.

Như vậy Phật độ chúng ta hết khổ, hay chúng ta dùng trí tuệ thấy muôn sự vật xảy đến với mình không thật, liền vượt qua các khổ. Nỗi khổ không ai cứu ta được mà do ta nhận ra chân tướng của nó không thật thì có gì làm ta phiền hà, khổ sở nữa! Thấy tường tận đạo lý thì không còn chấp. Nên nhớ chấp là gốc từ si mê, là nhân của đau khổ. Nhờ trí tuệ sáng không chấp nên đau khổ cũng không còn. Tụng một bài kinh Bát-nhã mà thấu triệt rồi thì chúng ta tự tại đi trong cuộc đời. Đó là điều chắc chắn vậy.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 114: Dừng ác làm lành

Nghiệp từ thân, miệng, ý mà ra thì cũng phải từ thân, miệng, ý mà thay đổi. Đã tạo nghiệp ác nghiệp dữ với người thì người trả lại ta nghiệp ác, nghiệp dữ. Vì vậy chúng ta phải dè dặt nói lời cẩn thận, đừng làm buồn lòng người. Làm việc gì nhớ đừng để cho người phải khổ. Nghĩ điều gì cũng cẩn thận suy đi xét lại, đừng nghĩ xấu nghĩ oan cho ai. Nghiệp không có hình tướng, tuy không thật tướng nhưng đã gây tạo thì nó không mất, đến khi đủ duyên thì mình phải gánh nhận hậu quả do mình tạo ra. Nghiệp đã tạo sẽ không mất đi, nếu ta không biết hoán cải để sống tốt hơn. Chúng ta còn đi trong luân hồi thì nên chọn con đường luân hồi thiện tức là đi lên, chớ đừng chọn luân hồi ác để rồi phải đi xuống.

Cũng như hiện tại chúng ta phải dời chỗ ở, nên dời chỗ có tiện nghi, đầy đủ phương tiện sanh sống dễ dàng, chớ không nên tìm chỗ khổ đau đói rét. Đó là chúng ta khôn ngoan biết lựa chọn, sắp đặt cho cuộc sống hiện tại và tương lai. Bằng không, cứ mù mù mịt mịt không biết thiện không biết ác. Rồi cứ như vậy qua ngày, tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, đến ngày cuối cùng phải mang nghiệp đen tối, chịu đọa trong cõi hắc ám. Đó là những người thật đáng thương, chịu đau khổ không biết đến đời nào ra khỏi.

Người chưa hiểu đạo khổ đủ thứ, người ta nói hơn mình một tiếng là chịu không nổi, bị lấn lướt một chút chịu không nổi, bị khinh một chút chịu cũng không nổi. Cái gì cũng chịu không nổi hết, riết cả lồng ngực chứa đầy oán hờn thành ra bệnh tim, gần chết khổ sở vô cùng.

Bây giờ hiểu rồi chúng ta nhìn mọi thứ chỉ cười thôi, cái gì qua cho qua luôn, hơi đâu phiền giận. Như vậy chúng ta thản nhiên tự tại, sống trong cuộc đời rất vui.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 115: Dũng cảm tiến tu làm nhiều thiện lành

Phật pháp nhiệm mầu, mỗi người khéo nhận ra, rồi từ đó sống an ổn, mặc cho dòng đời sóng gió biến động. Hạnh phúc ở ngay trong hiện tại không phải tìm đâu xa. Thân khỏe không bệnh hoạn và tâm an đó là hạnh phúc.

Quý vị nhớ, nhất là những vị tuổi đã cao, đã mấy mươi năm nhọc nhằn với cuộc sống lắm rồi, tuổi già kề cận, ráng làm sao ngày nào còn có mặt ở trên đời thì hãy tạo những nghiệp lành, những phước thiện để khi mình nhắm mắt, nghiệp đó theo mình không mất. Nếu quý vị tạo được một ngàn điều lành, quý vị không cần tủ, không cần nhà chắc, vẫn không ai lẻn vô lấy cắp được một ngàn việc lành của quý vị. Còn nếu quý vị có một ngàn lượng vàng, dù nhà cao cửa sắt, cũng chưa chắc gì giữ được.

Chúng ta giành danh, giành lợi với thế gian, nếu mình được, người mất thì họ đố kỵ ganh ghét. Còn chúng ta tạo nghiệp lành, dù bao nhiêu điều họ thấy họ cũng mừng giùm, không ai đố kỵ hết. Như vậy, chúng ta làm những điều tốt mà không ai đố kỵ với chúng ta, đó là cách yên ổn nhất. Còn như ai đó có đố kỵ giành điều lành với chúng ta thì họ làm điều lành, nếu họ làm nhiều thì tốt, sự đố kỵ này không có hại.

Người Phật tử hiểu rõ lý Nhân Quả áp dụng vào sự tu tập bản thân sẽ được những đức tính tốt:

1. Can đảm không kêu than oán trách, khi gặp cảnh khổ đến với mình. Vì biết do nhân mình đã tạo trong hiện tại, hoặc quá khứ còn thừa.

2. Dũng tiến tu thiện, vì biết gieo nhân lành sẽ được hưởng quả lành.

3. Cẩn thận khi sắp làm, sắp nói, vì sợ gây nhân xấu sau chịu quả xấu.

4. Không ỷ lại, vì biết mọi việc do mình tạo nhân, mình hưởng quả không phải sức thiêng liêng nào ban.

5. Không kiêu căng trong cảnh giàu sang, vì biết nhờ nhân lành đời trước nếu khởi hành động xấu sau này sẽ chịu quả khổ.

6. Không ích kỷ, vì biết mình và người tương quan nhau, người khổ tức mình khổ.

7. Không chán ghét xã hội muốn trốn tránh, vì biết mình không thể ly khai xã hội được.

8. Tích cực lợi tha, vì biết người tốt là mình tốt.

9. Không quá khổ đau khi thấy sự hoại diệt, vì biết có hợp phải có tan.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 116: Phá tan thành kiến cố chấp

Mọi thành kiến chủ quan phát xuất từ chỗ chấp ngã. Tính tự ái của con người cũng bắt nguồn từ chấp ngã mà có. Bởi thấy thật có cái Ta vĩnh cửu nên ai xúc phạm đến nó là phản đối, chống cự ngay. Sự phản đối ấy thành một bản năng tự vệ, không cần biết nó phải hay quấy. Lý trí con người bị mờ ám vì nó. Bao nhiêu người đua nhau lăn xuống hố trụy lạc cũng bởi thấy mình là thật, cần phải thụ hưởng. Hơn thua thương ghét đều do chấp ngã mà ra. Khi yêu thương cái Ta quá rồi, sanh ra ngạo mạn muốn đè bẹp kẻ khác. Cho việc làm của ta là hơn, ý nghĩa của ta là đúng. Ta là trung tâm vũ trụ, ta là trên hết mọi người. Dù có người thật tài đức hơn, khôn ngoan hơn, vẫn khinh khỉnh không kính phục. Họ chẳng khác nào như hòn đá muốn xông ướp mùi hương, không thể được. Người mang nặng thành kiến chủ quan này, dù ai muốn xây dựng họ trở lại thành một người tốt đủ những đức tính hiền hòa khiêm tốn, không bao giờ được. Những người ấy lúc nào cũng bảo thủ thành kiến chủ quan, ngoan cố và ngạo mạn. Vì mang sẵn tính xấu này nên không ai ưa và chịu gần gũi họ. Do đó, họ trở thành những kẻ bất mãn khổ đau nhất.

Đức Phật nói khổ đau để chúng ta ý thức được nó, để biết nó ẩn tàng nơi nào, mà tìm phương pháp diệt trừ nó. Người Phật tử chân chánh can đảm chịu đựng mọi sự khổ đau và tin mình có đủ trí tuệ, có đủ khả năng rứt bỏ ra ngoài sự ràng buộc khốc hại của nó.

Nói đến Phật giáo là nói đến sức mạnh vô biên của tâm minh do con người đầy dũng cảm, Phật giáo đã dạy con người dám nhìn thẳng sự thật và nói thẳng sự thật. Phật giáo nói kiếp người là đau khổ, nhưng phải lợi dụng kiếp người này vượt ra ngoài vòng đau khổ. Người Phật tử biết mang thân này là ô uế, giả tạm, nhưng cần phải mượn thân này làm con thuyền qua bờ thanh tịnh, an lạc. Người Phật tử không thúc thủ trước những khổ đau, vẫn hiên ngang đập tan bức thành khổ đau và vượt ra ngoài vòng trần lụy.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 117: Không mê tín vì lợi dưỡng

Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng giác ngộ đến đâu thì bóng đêm mê lầm tan đến đấy. Mê tín là một bóng đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. Bóng đêm và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng thì không tối, hoặc tối thì không sáng. Có giác ngộ là không có mê tín, có mê tín thì không có giác ngộ.

Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đã phản bội với đạo giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín. Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết dẹp hết bóng đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là người trung thực với chánh pháp. Bằng ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không vì lợi dưỡng mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường mê tín.

Đã thừa nhận mình là Phật tử, quyết định không vì lòng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mê tín.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 118: Ban vui cứu khổ

Tu là đổi niệm, lời nói, hành động mê tối ác độc trở thành sáng suốt lương thiện, còn gọi là chuyển nghiệp. Khi chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, chẳng những tự bản thân đă hiền thiện thanh cao, mà người trong gia đình ngoài xă hội cũng được an vui, thanh thản, an bình, hạnh phúc.

Hạnh phúc hay đau khổ do mình chủ động trọn vẹn, ngay Phật Trời cũng không dự phần trong đó. Nếu thân tạo tác thiện đó là nghiệp thiện của thân, thân tạo tác ác đó là nghiệp ác của thân. Miệng nói lời lành là nghiệp thiện của miệng, miệng nói lời hung dữ là nghiệp ác của miệng. Ý nghĩ tốt là nghiệp thiện của ý, ý nghĩ xấu là nghiệp ác của ý. Đó là nghiệp phát xuất từ thân khẩu ý. Tạo nghiệp chủ động là mình.

Nghiệp là hành động tạo tác của chúng sanh, xuất phát từ thân miệng ý. Nói đến nghiệp là xác định quyền làm chủ của chúng mình tạo rồi mình chịu, không do sức thiêng liêng nào tạo lên, cũng không do sự bắt buộc của tha nhân. Phật tử biết tu dừng nghiệp ác và chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện thì không cầu hạnh phúc mà hạnh phúc cũng tự đến.

Tu thiền là một pháp tu thực tế phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại. Tâm chúng ta khởi vọng tưởng phiền não, chúng ta khéo quán thì vọng tưởng lặng, hết phiền não, tâm an định. Tu tới đâu có kết quả lợi ích tới đó, rất cụ thể, không xa vời. Vọng tưởng phiền não là cái không thật hư ảo, nơi mình sẵn có Phật tánh là cái chân thật bị vọng tưởng phiền não che khuất, bây giờ bỏ hết vọng tưởng thì Phật tánh hiện ra.

Từ bi là ban vui, cứu khổ. Ai khổ, ai đói thì chúng ta thương, không vì bản ngã, không đợi người giúp mình, mình mới thương lại. Đó là tình thương của lòng từ bi. Còn vì mình thì chưa phải từ bi. Người có lòng từ bi là người thương tất cả chúng sanh bình đẳng như nhau. Vì thương mọi người nên đem hết cả tâm tư sức lực của mình làm cho mọi người được vui, hết khổ, nên gọi là ban vui, cứu khổ.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 119: Học và hành thực

Phật dạy:“Dù tụng nhiều kinh mà buông lung không thực hành thì chẳng hưởng được phần ích lợi của Sa-môn, khác nào kẻ chăn bò thuê lo đếm bò cho người. Tuy tụng ít kinh mà thường y giáo hành trì, hiểu biết chân chánh, từ bỏ tham, sân, si tâm hiền lành thanh tịnh, giải thoát, xa bỏ thế tục, thì dù ở cõi này hay cõi khác, người kia vẫn hưởng ích lợi của Sa-môn.” (Kinh Pháp Cú số 19, 20).

Từ bi là tập tình thương dành cho tất cả mọi người, bất luận hiền lành hay hung dữ, ta đều thương đều giúp đỡ như nhau. Người đã tạo những điều xấu xa, ai cũng ghét bỏ nên rất khổ. Đôi khi chính sự ghét bỏ này làm cho họ càng dữ hơn, nên ta cần phải thương họ. Đối với người hung dữ, chúng ta tìm cách nhắc nhở khuyến dụ cho họ trở thành người hiền. Như vậy mới thực là người có tâm từ bi, không bỏ một ai.

Muốn có lòng từ bi trong sáng thì phải giữ giới cho thanh tịnh, phải có giới đức trong sạch, và tu hạnh nhẫn nhục. Chẳng hạn như vì mình mà trộm cắp của người, vì thú vui của mình mà làm điều xằng bậy làm khổ người, sao gọi là từ bi được? Nếu người có tình thương hoàn toàn vị tha thì tình thương đó hết sức trong sạch, ai khồ thì dùng lời an ủi, dùng phương tiện giúp đỡ, đem nguồn vui cho mọi người chung quanh.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 120: Sám hối sáu căn

Mỗi đêm chúng tôi bắt Tăng Ni ở các thiền viện đều làm lễ Sám hối lục căn. Đó là tôi muốn cho Tăng Ni luôn luôn gỡ những dính mắc đối với sáu trần, những gì lâu nay chúng ta quen bị nó cột trói, bây giờ gỡ lần, đừng để cho dính mắc nữa. Làm sao sáu căn chúng ta đối với sáu trần dửng dưng, không còn bị nó lôi kéo, đó là chúng ta đã thành công. Cho nên mỗi đêm quý vị đừng sợ đau gối, rán quì Sám hối, đem hết tâm thành của mình Sám hối cho tha thiết. Sám hối để hổ thẹn, biết rõ điều đó là xấu, là tội lỗi mình chừa tránh, đừng cho dính mắc. Nếu không dính mắc sáu trần thì tâm dễ an vô cùng. Còn dính một trần nào cũng đều là bất an hết. Đó là gốc của sự tu.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 121: Đừng bao giờ tự đắc

Chúng ta đừng bao giờ tự đắc mình là người thanh tịnh, tâm hồn không còn bợn nhơ. Đừng bao giờ tự đắc như vậy ! Tôi thấy tập khí con người rất nặng nề, không đơn giản. Có người khi trình bày chỗ nhận được tưởng chừng họ tiến bộ đáng kể lắm, nhưng lâu lâu, gặp duyên gặp cảnh những cái cũ vẫn còn. Biết vậy, phải ráng luôn luôn tự cảnh tỉnh mình, vì tập khí không thể lường nổi, nay thấy tốt, ngày mai gặp duyên chưa chắc đã tốt. Do đó, cố gắng vừa khiêm tốn vừa cẩn thận tu tập cho có kết quả, đừng tưởng mình đã thành công trên đường tu, đến khi sai sót hiện ra hối hận không kịp.

Hôm nay tôi nhắc cho toàn chúng ý thức được sự tu hành của mình vẫn còn nhiều gay go lắm. Mỗi người ráng cẩn thận, phải vui mừng biết ơn khi có ai nhắc nhở lỗi lầm, nhờ đó mình càng ngày càng vươn lên. Nếu không được nhắc nhở, chúng ta ngày càng lún sâu trong vũng bùn tập khí, khó bề ra khỏi.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 122: Quyết chí tu tiến

Hôm nay, tôi xin nhắc lại cho quý vị Phật tử nhớ:

– Đạo Phật là đạo dạy cho chúng ta đầy đủ lòng tự tín. Chúng ta tu theo Phật là tin chắc nơi mình. Mình có quyền tạo cái vui, mình có quyền gây cái khổ. Khổ vui do chính mình, chớ không ai đem đến cho mình. Hiểu như vậy là có đức tự tín.

– Chúng ta có đủ khả năng thành Phật. Phật là con người, chúng ta là con người. Phật có tánh giác, chúng ta cũng có tánh giác. Nếu chúng ta quyết tâm tu rồi cũng sẽ thành Phật, không nghi ngờ. Như vậy, tất cả chúng ta ai có đủ ý chí quyết liệt tu hành thì trên đường tu nhất định chúng ta sẽ thành công.

– Có đủ ý chí quyết liệt rồi thì đối với xã hội, đối với hoàn cảnh đất nước của mình đang nghèo, chúng ta cố gắng tạo cho được những nhân tốt thì quả tốt sẽ đến, chúng ta xây dựng một xã hội cố gắng vươn lên. Đó là đem lại sức mạnh cho đất nước, cho xứ sở của mình. Không nên ỷ lại hay trông chờ, không nên sợ sệt những quyền lực vô nghĩa.

Chúng ta phải can đảm, phải nhìn thẳng, phải thấy đúng. Như vậy mới thật là người Phật tử chân chánh, mới thật là người biết đạo; bằng ngược lại chúng ta tu theo Phật chỉ có danh tự, chớ thực chất không có gì cả.

Vậy mong rằng tất cả quý Phật tử nghe tôi giảng, xét cho thật kỹ, nếu đúng thì quý vị phải phát tâm quyết liệt thực hành và ứng dụng tu cho có kết quả. Đó là chỗ mong đợi của chúng tôi."

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 123: Nhận trở lại tánh hay biết bất sinh bất diệt

Tất cả chúng ta tu ai cũng sợ vọng tưởng dấy khởi, cho nên vọng khởi là liền bỏ, liền dẹp. Khi bỏ dẹp rồi, lúc đó nói mình không còn vọng tưởng. Nhưng chú thứ hai thứ ba trồi lên rồi bỏ dẹp… cứ làm như vậy suốt buổi có mệt không? Quả là còn nhọc hơn mấy người nông phu cuốc đất ngoài đồng nữa, phải không?

Ra đồng cuốc đất, giở cuốc lên cuốc xuống, làm mệt đứng chống cuốc thở, ngó trời ngó mây chơi. Còn mình ngồi đó, một giờ hai giờ có dám nghỉ đâu. Lúc nào cũng phải dòm chừng, hết chú này tới chú khác trồi lên liên miên. Một hai giờ đồng hồ không nghỉ chút nào hết.

Như vậy người tu mới nhìn qua thấy thảnh thơi, ngồi lim dim đó mà thực là đổ mồ hôi hột, không chút rảnh rỗi, nhàn hạ. Bởi vì chúng ta quen nhìn sự vật bên ngoài theo lối hình thức phân biệt tướng mạo, vì vậy cái gì có hình tướng, có phân biệt thì chúng ta hiểu nhận, còn cái gì không hình tướng, chúng ta lại không biết.

Cho nên người biết tu sẽ được kết quả rất cụ thể, còn người không biết tu, hết nghĩ chuyện này đến chuyện nọ liên miên, nên không có kết quả. Trong khi cái biết thầm lặng luôn ở bên mình lại không hay, không nhớ tới. Do không nhận được cái hằng tri hằng giác thầm lặng ấy, nên chỉ nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ phải nghĩ quấy, cho đó là tâm. Chấp giữ khư khư thân sinh diệt và tâm sinh diệt là mình thì trách gì không đi trong luân hồi sanh tử muôn kiếp. Bởi cho cái sinh diệt là mình nên vừa mất cái sinh diệt này liền ôm cái sinh diệt khác, cứ liên miên như vậy, chịu vô lượng khổ đau, không có ngày ra khỏi.

Nếu biết rõ thân này vô thường sinh diệt, tâm phân biệt hơn thua phải quấy cũng vô thường sinh diệt; chỉ có cái hằng tri hằng giác, không hình không tướng đó mới thật là mình, thì đâu còn chạy theo hay chấp giữ cái vô thường sanh diệt làm gì nữa. Ngay đây dừng lại tất cả vọng tưởng đảo điên, thân tâm an vui, tự tại. Đó chính là con đường đi đến Phật đạo.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 124: Đừng đuổi bắt trần cảnh

Cuộc đời đen tối và sầu khổ nhất là cuộc đời của kẻ hay cau có, oán thù. Vì kẻ hay cau có thì trên gương mặt luôn luôn hiện đầy những nét nhăn gay gắt, đôi mi chau lại lộ vẻ khó khăn. Kẻ còn ôm nặng khối hận thù thì lửa hận thù thiêu đốt cả tim gan và buồng phổi của họ. Còn gì khổ đau hơn khi tim gan bị thiêu đốt. Còn gì xấu xí bằng khi gương mặt nhăn nhó, héo sầu.

Sống trên đời này, nếu ta gặp điều trái ý liền mang lòng thù hận, thì chắc đời ta sẽ thấy toàn thù hận và oán hờn.

Danh vọng, tài sắc… ở đời là những cạm bẫy chực hại người, nhưng vì nó có công năng hấp dẫn quyến rũ khiến người phải mê mẩn say sưa để rồi chịu khổ, cũng như miếng mồi vì có mùi thơm hấp dẫn, con lươn phải lao đầu vào hom trúm.

Phần đông người đời ngỡ rằng đuổi bắt tài sắc, danh vọng… là hạnh phúc, chớ đâu ngờ càng đuổi bắt nó càng chuốc khổ về mình.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 125: Giờ ngồi thiền thiêng liêng

Nhớ tới giờ ngồi thiền là chúng ta nhớ tới giờ phút linh thiêng. Giờ đó hết sức quý báu, quý vị đừng xem thường, đừng để mất đi. Người nào biết trân quý giờ ngồi thiền, tự nhiên sẽ thấy giá trị và kết quả của ngồi thiền, còn vị nào cho đó là giờ trả nợ, sẽ không bao giờ thấy được giá trị và kết quả của ngồi thiền.

Muốn chinh phục mình, làm sao đừng để nội tâm có những niệm sai lầm, đừng nghĩ giờ này là giờ bị bắt ngồi thiền. Phải biết đó là giờ phút quý báu dành cho mình tu. Nhất là buổi khuya ngủ dậy tỉnh táo, khí hậu mát mẻ, ngồi thiền là cơ hội hết sức tốt để nhận lại cái mình sẵn có. Người dồn hết tâm lực trong sự tu, nhất định sẽ đạt kết quả không nghi. Còn người cảm thấy mình bị bắt buộc tu thì ngàn năm cũng không tiến. Do thấy giờ ngồi thiền quý báu nên chúng ta không dám xem thường, nhờ đó lúc nào cũng nỗ lực tinh tấn. Nếu không thấy như vậy sẽ dễ thối tâm, dễ lùi bước trên con đường đạo. Đó là lẽ thật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 126: Bố thí thiện lành trong sáng

Bố thí, theo nghĩa thông thường là giúp đỡ, sẻ chia, chính là gieo những hạt giống hiền thiện tốt lành, giống như người gửi tiền đ̣ể dành ngân hàng, số tiền luôn thuộc về chủ nhân. Như vậy, khi làm những việc lành như bố thí tiền bạc, tài sản, chia sẻ những lo lắng buồn phiền khổ đau của người. cũng đồng nghiã là ta đang tu phước.

Bố thí theo nghĩa thông thường là giúp đỡ, sẻ chia cho người khi cần thiết nhưng vẫn có sự tính toán. Khi chúng ta cho đi một vật gì là biết chắc mình sẽ nhận lại được tương đương hoặc nhiều hơn thế nữa, như vậy trong đó có sự cân nhắc lợi-hại.

khi cho đi một vật gì, mục đích là để cầu phước báo hiện tại và mai sau, hoặc vì muốn đáp lại lòng tốt của người khác. như vậy, ý nghĩa cho ở đây là để trao đổi hai chiều. Nngười sanh ra trong đời có sự nghiệp giàu sang vinh hiển, công thành danh toại không phải bỗng dưng mà có. Ít nhiều đều có phần ảnh hưởng lớn trong việc tu nhân tích đức của họ từ nhiều đời trước. Chính vì vậy, trong cuộc sống này không có việc gì là ngẫu nhiên, đương nhiên khi không, hay tự nhiên mà thành.

Muốn được giàu sang quyền quý, sung túc đầy đủ trong tương lai thì hiện tại phải xả bỏ tâm tham lam, và phải biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ tùy theo khả năng của mình. Người Phật tử chân chính lúc nào cũng phải tin sâu nhân quả, tin mình làm lành được hưởng phước. Trong tương lai muốn được giàu sang, nhiều của cải mà hiện tại không biết làm phước thì e rằng không thể có được.

Bố thí theo nghĩa sâu xa là buông xả mọi dính mắc về vật chất lẫn tinh thần. Phật dạy bố thí là phương pháp xả bỏ lòng tham lam ích kỷ, thay vì chỉ biết sống cho riêng mình thì nên biết giúp đỡ sẻ chia cho người, không nên sống trong vô cảm, thương mình, mặc người. Nếu bố thí vì thương người không có tâm vụ lợi thì mới đích thực là buông xả. Đạo Phật chủ trương sống hòa mình cùng nhân loại, với quan niệm rằng ai cũng là người thân, người thương nên mỗi người đều phải có trách nhiệm và bổn phận thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã, vị tha.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 127: Ban vui cứu khổ

Từ bi là ban vui, cứu khổ. Ai khổ, ai đói thì chúng ta thương, không vì bản ngã, không đợi người giúp mình, mình mới thương lại. Đó là tình thương của lòng từ bi. Còn vì mình thì chưa phải từ bi. Người có lòng từ bi là người thương tất cả chúng sanh bình đẳng như nhau. Vì thương mọi người nên đem hết cả tâm tư sức lực của mình làm cho mọi người được vui, hết khổ, nên gọi là ban vui, cứu khổ.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 128: Luôn có tâm ý muốn giúp người

Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình. Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Tinh thần từ bi của Đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui.

Chúng ta sống trong lòng xã hội, nên mỗi cái xấu, mỗi cái dở của xã hội đều liên hệ, ảnh hưởng tới mình. Đừng nghĩ rằng miễn mình được phần mình thì thôi, còn ai khổ mặc họ. Phải nghĩ rằng, giúp cho người là giúp cho mình. Phải chia sớt nhau cho bớt khổ, để được vui. Làm các điều lành là sống với tâm đạo đức. Việc lành lớn, việc lành nhỏ nào, mình cũng sẵn sàng làm, sẵn sàng giúp người. Đó là tu.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 129: Khéo điều hòa

Chúng ta tu là nương theo pháp Phật. Lời Phật dạy không phải chỉ để đọc hoặc giảng nói mà để chúng ta tu. Tu là thực hành lời Phật dạy, dẹp bỏ những xấu dở, điên đảo của nội tâm, chớ không phải chúng ta chỉ có hình thức bên ngoài là người tu, hoặc ngoài miệng tụng kinh là đủ. Nếu quên ứng dụng những lời Phật dạy để tự răn, sửa lấy mình, chừa bỏ những điều hư dở thì chưa hẳn là tu.

Như vậy, chúng ta tu phải khéo ứng dụng hằng ngày, hằng giờ, hằng phút ở nội tâm. Vừa có một niệm xấu dấy lên liền phải ngăn chặn, ngừa đón nó, như vậy là tu. Nếu những tâm niệm xấu dở chúng ta không dẹp bỏ được cũng chưa hẳn là tu. Có nhiều người nói tu nhưng khi gặp việc buồn, hoặc trái ý liền nổi sân. Chúng ta chưa làm chủ được mình nên thân, khẩu, ý dễ tạo nghiệp thành tội.

Cho nên nói tu là nói tới chỗ khéo điều hoà, khéo làm chủ nội tâm, sao cho cuộc sống của mình giữa mọi người luôn đem lại an vui.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 130: Đừng bới móc lỗi người

Thấy lỗi người, che giấu lỗi mình, khoe khoang cái hay của mình và che giấu cái hay của người là căn bệnh trầm kha của con người. Nó là bức tường kiên cố ngăn cách đạo giải thoát. Vì nồng cốt của đạo Phật là vô ngã. Người muốn giải thoát sanh tử phải phá tan ngã chấp. Nếu tâm chấp ngã còn nặng trĩu thì không mong gì giải thoát được. Sở dĩ che giấu lỗi mình, vạch bày lỗi người là gốc của si mê chấp ngã, điều kiện trước tiên phải dẹp trừ tâm lỗi lầm "thấy lỗi người, che giấu lỗi mình". Người nếu thật tu hành, đừng thấy lỗi thế gian. Các việc muốn không ngại, thường phải thấy lỗi mình, như thế mới hợp với đạo.

Trên bước đường tu đạo của chúng ta, muốn khỏi bị chướng ngại thì phải xoay lại chính mình, tự kiểm điểm từng tâm niệm để xét nét những lỗi lầm khi tâm niệm vừa dấy khởi. Nếu tu hành như vậy chúng ta đâu có thì giờ rảnh rỗi để nghĩ đến lỗi lầm của kẻ khác. Người dụng tâm như thế tiến đạo không khó. Phật gọi người này là " người chơn thật". Trái lại, người ôm trong lòng chấp ngã, bươi móc lỗi người, che giấu cái hay, cái tốt của kẻ khác, chính là kẻ tà vạy, không phải người chân chánh.

Vậy chúng ta nên đem những điều Phật dạy để làm cây thước đo lại lòng mình thuộc "chơn" hay "giả".

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 131: Không dính mắc sáu trần

Hiện nay Tăng Ni hay Phật tử thử trọn một ngày đừng dính sáu trần thì tâm có an không? Không dính sáu trần thì tâm tự an rồi! Nếu còn chạy theo trần này dính mắc trần kia, như khỉ vượn buông nhánh này chụp nhánh khác thì tâm đâu có an. An trụ là không dính sáu trần, thì sáu trần đâu có quyền gì xâm phạm đến mình? Mình là mình nó là nó, mình ở đây, nó ở ngoài kia. Như sắc ở ngoài con mắt, mình ngó lơ thì không dính mắc, như tiếng người nói, mình nghe rồi buông đừng bám vào, thì sắc thanh đâu có xâm phạm đến chúng ta được. Chỉ vì mắt dính với sắc trần, tai dính với thanh trần… nên chúng ta bị sáu trần lôi kéo đắm chìm trong sanh tử đời đời kiếp kiếp. Ngay bây giờ đừng dính sáu trần thì tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức tâm Phật hiện ra. Trái lại nếu còn dính mắc thì tâm chúng sanh hiện ra. Dính mắc là chúng sanh, không dính mắc là Phật, Phật với chúng sanh gần kề nhau. Như vậy chúng ta thấy việc tu hết sức là đơn giản, không phải gian lao cực khổ gì.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 132: Thân ta không thật

Phật thấy thân giả, chúng ta cho là thật, cũng như tờ giấy trắng ta nói đen. Rõ ràng cái thấy, cái biết của mình không đúng như thật. Chúng ta cùng nhau tuần tự nghiệm xét lại vấn đề này. Nếu thân này thật thì ông cha chúng ta không chết, phải không? Thật thì còn hoài còn mãi, nhưng ta thấy ông chết rồi cha chết, anh em chết, mình chết, như vậy đâu có thật. Người này đi, người kia đi, ai cũng có mặt một thời gian rồi đi. Đó là đứng về lý vô thường thân không thật vì nó có sanh, có già, có bệnh, có chết. Nó là một dòng chuyển biến không dừng nên không thể thật được. Như mấy đứa trẻ con đốt một cây nhang, nó cầm quay nhanh nên ta thấy có một vòng tròn. Vòng tròn đó thật không? Nếu nói vòng tròn thật là ta nói sai, vì nó chỉ là một cây nhang quay nhanh thôi.

Trong con người chúng ta tế bào này sanh, tế bào kia diệt liên tục, do dòng chuyển biến không dừng ấy tạm kết thành thân. Từ trẻ đến già rồi chết, ta sống bằng sự chuyển biến không dừng, vậy mà ta chấp nó thật mới lạ chứ. Vì vậy chấp thân thật là vô minh. Từ vô minh lại sanh thêm các thứ ngã chấp pháp chấp khác nữa, cứ thế ta sống trong nhiều lớp mê mờ, khó thoát ra được. Do đó đau khổ phát sanh, và nỗi khổ lớn nhất là trầm luân mãi trong sanh tử.

Phật dạy toàn bộ thân này do tứ đại hợp thành. Đất là chất cứng như tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương… Nước là mồ hôi, máu mủ v.v… Gió là hơi thở ra vào làm thân chuyển động. Lửa là hơi ấm trong người. Bốn chất đó luôn có nơi thân, không thể thiếu thứ nào cả. Bốn chất đó tồn tại được trong thân ta là nhờ mượn tứđại bên ngoài đem vào. Vì vậy sự sống của chúng ta lúc nào cũng nương nhờ vay mượn. Nước thiếu mượn tách nước đem vô. Đất thiếu mượn ít chén cơm. Hơi ấm thiếu kiếm gừng, kiếm ớt ăn vào. Còn gió tức không khí thì ta mượn trả liên tục. Nếu trả mà không mượn lại là tử vong liền. Một sự sống vay mượn như vậy mà nói là của mình, là thật thì không điên đảo sao được?

Tóm lại, đứng về mặt thời gian thân này chuyển biến không dừng nên không thật. Đứng về mặt không gian thân này do vay mượn đất, nước, gió, lửa liên tục mà tồn tại nên cũng không thật. Như vậy khi quán sát kỹ ai cũng biết thân không thật, nhưng trên tình cảm, trên ảo tưởng của mình không ai dám nói nó giả cả. Chúng ta phạm một sai lầm lớn như thế nên làm gì cũng thất bại, cũng đau khổ.

Trong tất cả chúng ta có mấy người được giác ngộ? Kể cả hàng tu sĩ cũng thấy nó thật nữa huống chi người còn tóc. Mới thấy cội gốc vô minh của chúng sanh quá sâu đậm, gỡ bỏ thật là khó. Chúng ta chỉ thấy bằng ảo tưởng, chớ không phải từ trí tuệ nên mới có sự sai lầm ấy. Đó là điều hết sức quan trọng.

Khi thấy thân thật thì mọi nhu cầu của thân như tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc, thanh, hương, vị, xúc đều trở nên quan trọng, cần thiết, do đó người ta tìm kiếm, đòi hỏi. Ăn thì phải ngon, mặc phải đẹp, rất nhiều thứ ham muốn, cho nên tham phát sanh. Tham được thụ hưởng, lúc nào cũng muốn hơn người, thua là không được. Nếu ai ngăn trở cái mình muốn thì nổi tức lên, cựhoặc đánh người ta, đó là sân. Như vậy tham sân có là từ si. Thân không thật mà thấy thật đó là si, si là gốc vô minh.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 133: Cuộc đời qua mắt tôi

Chiếc Thân Tứ Đại Khói
Sinh Hoạt Thế Gian Mây
Thành Công Khối Nước Đá
Thất Bại Chùm Bọt Tan
Nhục Vinh Như Bóng Nước
Thương Ghét Hạt Sương Mai
Khổ Vui Trong Giấc Mộng
Danh Lợi Bóng Chim Bay
Tháng Ngày Cái Chớp Mắt
Còn Mất Nước Trăng Lay
Chung Cuộc Cơn Gió Thoảng
Viên Mãn Bầu Trời Trong.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 134: Càng tu càng an lạc

Phật dạy khi nghĩ, thì nói đây là cái nghĩ của tôi, đừng thêm cái nghĩ của tôi “là đúng”. Những cái đúng, một người với một người thì cãi vả, một tập thể với một tập thể thì chống đối, nước này với nước kia thì chiến tranh v.v. Tất cả đều từ tâm chấp của mình mà gây ra bao nhiêu đau khổ. Nếu biết rõ suy nghĩ không thật, đây là cái nghĩ của anh, đây là cái nghĩ của tôi, không ai đúng ai sai cả. Trong nhân gian có gì là chân lý bất di bất dịch, cái phải chỉ tương đối thôi.

Vì Phật là con người giác ngộ, đạo Phật là con đường tiến đến giác ngộ, là ngọn đuốc sáng soi đường cho chúng sanh ra khỏi đêm tối vô minh. Mọi khổ đau của chúng sanh do tham sân si tạo nên; chúng ta phải có lòng cương quyết, can đảm, kiên trì tự nỗ lực tu hành. Một bước tiến tu là một niềm an lạc, càng tu khổ đau càng tan rã, như tuyết giá tan rã khi ánh mặt trời lên.

Hằng ngày chúng ta tiếp xúc với mọi người lúc nào cũng vui tươi hòa nhã, nói năng từ tốn ôn hòa thì không hạnh phúc là gì? Chúng ta tu đừng đòi hỏi những cái xa xôi, đừng mong mỏi những cái kỳ hoặc, mà phải thấy rõ ràng tu là xây dựng bản thân mình cho tốt đẹp, đem lợi lạc lại cho chính mình ngay bây giờ và tại cõi đời này.

Người tu giá trị không phải là có thần thông, biết quá khứ vị lai, mà giá trị ở chỗ gặp lợi mình vẫn bình thản, gặp suy mình vẫn an ổn, cho đến gặp khổ hay vui mình cũng an nhiên.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 135: Trí huệ khéo léo

Tính lường giữa cái vui thế gian và cái vui thiền định trí tuệ, sự đắc, thất, khinh, trọng thế nào ?

Cái vui thế gian vui ít khổ nhiều, dối trá không thật, là thất, là khinh.

Cái vui thiền định trí tuệ là cái vui vô lậu, vô vi, lặng lẽ thênh thang, hằng lìa sanh tử, xa hẳn khổ não, là đắc là trọng.

Phân biệt như vậy gọi là XẢO TUỆ (TRÍ TUỆ KHÉO LÉO).

Sư Ông giảng:

Cái vui của thế tục là vui nhộn, vui rồi khổ. Như người uống rượu rồi nói lý nói sự, rồi cải lộn, rồi xô bàn, rồi đánh nhau, rồi hờn giận, tốn tiền, tốn sức…Mình khổ, làm người khác khổ, gia đình khổ.

Hoặc, người thế gian vui với bạn bè là lúc có tiền, đi ăn, đi uống…lúc hết tiền thì họ gặp họ tránh…cho nên nói cái vui của thế gian là dối trá, là thất, là khinh…

Còn vui trong thiền định thì an ổn, thanh tịnh, an lạc nội tâm. Ngồi thiền nửa giờ, một giờ mà tâm không nghĩ, không tưởng thì tỉnh táo, sáng suốt, gương mặt thanh thản, vui nhẹ nhàng, thảnh thơi…

Càng tu càng hiền lành, càng vui nhiều, ở trong gia đình ai nấy cũng dễ chịu. Mình an lạc, mọi người xung quanh được an lạc lây.

Phải có trí tuệ so sánh như vậy thì tu mới tiến, còn không biết thì sẽ dính mắc vào thế gian, tu không tiến.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 136: Từ bi hỷ xả

Hỉ xả là vui vẻ tha thứ những lỗi lầm mà người đã phạm đến ta, cũng như vui vẻ bỏ tất cả danh vọng, tài sắc cho đến thân mạng của ta, nếu thấy cần và lợi ích cho chúng sanh. Có tha thứ, lòng ta mới thênh thang, tim ta mới hòa nhịp cùng tim của mọi người, có xả bỏ, tâm ta mới thanh thoát và an tịnh.

Hạnh Từ Bi: Tự tâm ta phát hiện lòng thương chân thật, lòng thương này được biểu lộ trong hành động, ngôn ngữ chia vui sớt khổ cho nhau. Phật tử tại gia; đối tượng thực hiện lòng thương này là cha mẹ, anh em, vợ con, sau cùng là thân thuộc hàng xóm. Trong gia đình, lúc nào người Phật tử cũng đem lại sự an vui cho cha mẹ, anh em, vợ con, không bao giờ làm cho ai buồn khổ.

Những tác động về thân miệng của chúng ta có tánh cách lợi người, đem lại nguồn an vui cho người, là tác động lành. Nó sẽ mang lại cho ta sự an vui ngay hiện tại, hoặc sau này, gọi là quả lành. Những tác động có tánh cách thương tổn khiến người đau khổ, gọi là nhân dữ. Nó sẽ chuốc lấy sự đau khổ trở về ta ngay hiện tại, hoặc mai kia, gọi là quả dữ.

Người học Phật nhận chắc lý nhân quả, là đã có căn bản vững vàng trên đường tiến tu. Ðồng thời cũng gạt phắt những thuyết mê tín vu vơ như: đồng bóng, bói xăm, tướng số, may rủi… Vì biết rõ mọi tác động đẹp xấu của chúng ta, sẽ cải tạo xây dựng một cuộc đời vui khổ trong hiện tại và vị lai.

Ngài Huệ Năng đã dạy: Thường biết lỗi mình, chớ biết lỗi thế gian.

Tu là cốt để biết rõ mình. Muốn biết rõ mình phải “biết lỗi” mình. Tu mà không biết lỗi mình thì không bao giờ tu tiến được. Trong việc tu hành, ngày càng tiêu được tội lỗi, nghiệp chướng vơi đi, tâm trí ngày càng sáng thêm. Niềm an vui ngày càng rộng mở. Cuộc sống ngay đó được hạnh phúc.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 137: Mình tạo nghiệp mình tự chịu

Nghiệp là hành động tạo tác của chúng sanh, xuất phát từ thân miệng ý. Nói đến nghiệp là xác định quyền làm chủ của chính mình tạo rồi mình chịu, không do sức thiêng liêng nào tạo lên, cũng không do sự bắt buộc của tha nhân. Phật tử biết tu dừng nghiệp ác và chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện thì không cầu hạnh phúc mà hạnh phúc cũng tự đến.

Hạnh phúc hay đau khổ do mình chủ động trọn vẹn, ngay Phật Trời cũng không dự phần trong đó. Nếu thân tạo tác thiện đó là nghiệp thiện của thân, thân tạo tác ác đó là nghiệp ác của thân. Miệng nói lời lành là nghiệp thiện của miệng, miệng nói lời hung dữ là nghiệp ác của miệng. Ý nghĩ tốt là nghiệp thiện của ý, ý nghĩ xấu là nghiệp ác của ý. Đó là nghiệp phát xuất từ thân khẩu ý. Tạo nghiệp chủ động là mình.

Nghiệp từ thân, miệng, ý mà ra thì cũng phải từ thân, miệng, ý mà thay đổi. Đã tạo nghiệp ác nghiệp dữ với người thì người trả lại ta nghiệp ác, nghiệp dữ. Vì vậy chúng ta phải dè dặt nói lời cẩn thận, đừng làm buồn lòng người. Làm việc gì nhớ đừng để cho người phải khổ. Nghĩ điều gì cũng cẩn thận suy đi xét lại, đừng nghĩ xấu nghĩ oan cho ai. Nghiệp không có hình tướng, không thật nhưng đã gây tạo thì nó không mất, chỉ có thể chuyển đổi thôi.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 138: Hiếu và bất hiếu

Theo đạo Phật, nếu chỉ phụng dưỡng cha mẹ đầy đủ vật chất cùng tất cả sự cung kính thì chưa đủ để báo ân cha mẹ. Người con hiếu thảo, ngoài hiếu dưỡng thông thường còn hướng cha mẹ trở về an trú trong chánh pháp.

Trong kinh, Phật dạy tội lớn nhất là tội bất hiếu, phước lớn nhất là phước hiếu thảo. Nhưng người đời khi lập gia đình, tình thương thường dồn cho chồng vợ con, không nhớ lo cho cha mẹ. Trong cuộc sống, bậc làm cha mẹ phải dễ dãi cho con cháu dễ gần gũi để nó làm tròn bổn phận làm con. Phận làm con cháu phải thương kính hiếu thảo với cha mẹ, ông bà. Sống như vậy, gia đình mới an vui, hạnh phúc.

Phật rất chú trọng đến đức hiếu thảo của con người. Nếu người tu hành không nhớ công ơn cha mẹ thì việc tu hành chỉ là việc làm ích kỷ, không có cơ bản đạo đức. Chúng ta tu là vì thương cha mẹ, thương thân bằng quyến thuộc, thương dân tộc, thương nhân loại, nên nỗ lực tu hành để rồi khuyên những người thân người sơ cố gắng tiến trên con đường đạo đức, làm đẹp cho người, làm đẹp cho quê hương xứ sở.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 139: Tự lợi và lợi tha

Chủ yếu của đạo Phật là tu từ tự tâm của cá nhân thanh tịnh rồi lan ra ngoài. Có nhiều người hiểu lầm nên trước lo cho tất cả mọi người đều tốt. Nhưng mình chưa thật tốt mà muốn cho mọi người chung quanh tốt thì không được. Muốn cho mọi người tốt thì trước hết chúng ta phải tốt. Rồi gia đình, làng xóm chúng ta tốt, cho đến tất cả thế giới đều tốt. Muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, trước hết phải xây dựng cá nhân.

Nền tảng tạo thành một con người tốt đẹp là thanh tịnh. Thanh tịnh là trong sạch. Trong sạch không có nghĩa thoát ly ngoài cảnh trần tục, mà ở ngay trong cõi đời ô trược không bị nhiễm ô. Như hoa sen tuy nằm giữa đống bùn nhớp nhúa mà hương vị vẫn thơm tho. Muốn thực hiện đức thanh tịnh, các Phật tử tập dần từ thô đến tế, từ cạn đến sâu: hành động thanh tịnh, ngôn ngữ thanh tịnh, tư tưởng thanh tịnh.

Di Lặc Bồ-tát là hiện thân của đức tánh hỷ xả: do vui vẻ mà xả, cũng do xả nên được vui. Chúng ta hảy cố gắng tập đức hỷ xả của Ngài buông bỏ hận thù, buông bỏ mọi cố chấp, buông bỏ lòng tham trước… Tất cả đều buông bỏ thì lòng chúng ta ta nhẹ nhàng như quả bóng đứt dây, thênh thang như hư không bao hàm vạn tượng, vui vẻ hồn nhiên như đứa trẻ thơ nhìn vào ống kính vạn hoa. Có hạnh hỷ xả là có giải thoát, có an vui.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 140: Dừng nghiệp chuyển nghiệp và sạch nghiệp

Đạo Phật chỉ dạy cho chúng ta phải làm chủ được mình. Làm chủ được mình mới có tự do; chưa làm chủ được mình thì không có tự do. Tại sao? Bởi vì nếu không làm chủ được mình thì mắt đối với sắc nhiễm sắc, tai đối với thanh nhiễm thanh, mũi đối với hương nhiễm hương, lưỡi đối với vị nhiễm vị, thân đối với xúc nhiễm xúc, chỗ nào cũng mắc kẹt. Đòi tự do mà mắt tai mũi lưỡi thân đều bị dính nhiễm, bị trói buộc hết.

Biết giữ năm giới sẽ đem lại cho mình một đời sống an lành, một gia đình hạnh phúc, một xã hội văn minh. 1. Không sát sanh thân – tráng kiện sống lâu; 2. Không trộm cướp – được tài sản sung túc; 3. Không tà dâm – thân thể đẹp đẽ; 4. Không nói dối – ăn nói khôn ngoan mọi người yêu chuộng; 5. Không uống rượu – trí tuệ sáng suốt. Vì thương mình thương người, Phật tử chúng ta phải cố gắng gìn giữ và khuyên người gìn giữ.

Giải thoát là do nghiệp sạch, tâm thanh tịnh, thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Mỗi khi Phật tử quy y đều được phát lá phái, trong đó có bài kệ: "Chớ làm các đều ác. Vâng làm các việc lành. Giữ tâm ý trong sạch. Là lời chư Phật dạy." Chớ làm các đều ác là dừng nghiệp. Vâng làm các việc lành là chuyển nghiệp. Giữ tâm ý trong sạch là sạch nghiệp. Mong các Phật tử nhớ bài kệ này để việc tu có kết quả tốt đẹp.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 141: Đạo Phật cứu cái khổ sinh tử luân hồi

Chủ yếu của đạo Phật là cứu khổ chúng sanh, mà cứu khổ chúng sanh là cứu cái khổ bị trầm luân sanh tử luân hồi, chứ không phải cứu đói cứu lạnh, nên nói là giải thoát sanh tử luân hồi, chớ đâu có nói giải thoát đói lạnh. Ðức Phật trước kia ở trong cảnh giàu sang quyền quí, vật chất quá đầy đủ, tại sao Ngài lại ưu tư khắc khoải, rồi từ bỏ tất cả để vượt thành xuất gia? Vì Ngài thấy rõ ngôi vua, quyền thế, của cải là tạm bợ không giải quyết được vấn đề sanh tử, chỉ có tu hành giác ngộ thấy các pháp đúng như thật mới giải thoát được luân hồi sanh tử. Phật giác ngộ rồi Ngài mới chỉ dạy cho chúng ta tu để được giải thoát như Ngài. Chúng ta cũng giảng dạy cho người tu để được giải thoát như chúng ta. Ðó là mục đích chính của sự tu hành mà Phật dạy. Còn những việc từ thiện xã hội như bố thí giúp người, chỉ là những phương tiện đầu để chúng ta có cơ hội gần gũi thân cận, hướng dẫn cho người đường lối tu hành, sống đúng với lời Phật dạy, để được an vui tự tại trong đời này và mãi mãi về sau. Chúng ta tu mà không thực hành như vậy thì không xứng đáng là một người tu Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 142: Tranh giành đấu đá để còn lại gì

Chúng sanh si mê tranh giành sắc, tài, danh, lợi, đấm đá nhau, sát phạt nhau, lừa đảo nhau, hận thù nhau… biến cảnh nhân gian trở thành bãi chiến trường. Kẻ thắng thì được hoan hô thăng thưởng, được vật chất dẫy đầy; người bại thì bị khinh miệt chê đè, bị thân tàn nghèo đói. Một bên hạnh phúc, một bên khổ đau hiện bày trước mắt mọi người. Vì thế, bất cứ ai có mặt trên trần gian đều sẵn sàng cầm kiếm xông vào trận mạc để mong giành phần thắng về mình. Nhưng nơi chiến trường đâu phải ai cũng là kẻ thắng. Có người thắng là có kẻ bại, có hạnh phúc là có khổ đau. Ðôi khi kẻ bại phải tan thân mất mạng đã đành, mà người thắng cũng thương tích đầy mình. Hạnh phúc rất ít mà khổ đau quá nhiều. Mặc dầu là thế, ở đời có ai chịu nhường bước cho ai. Những chiếc xe tranh nhau qua mặt gây tai nạn, hằng ngày xảy ra nhan nhản trước mắt, mà các chú tài xế ít khi chịu nhường tránh nhau để mình và người được sự an toàn. Tranh đấu đã trở thành qui luật của con người. Song kẻ thắng người bại kết cuộc sẽ thành cái gì ? Một nấm mồ hay một nhúm tro tàn !

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 143: Thấy được vô ngã dứt phiền não

Con nguời và muôn vật sống trên quả đất, kể cả quả đất đều do nhiều nguyên tố họp lại thành hình. Không có vật nào đơn thuần từ một nhân tố mà thành. Ðã do nhiều nhân tố chung hợp thành sự vật, những nhân tố ấy nhà Phật gọi là nhân duyên. Nếu phân tích một con người hay sự vật, chúng ta thấy nhiều lớp nhân duyên tụ họp thành. Nơi con người thì có mấy tỷ tế bào chung hợp, mỗi loại đều có chức năng riêng. Ở mỗi vật cũng do nhiều tế bào kết hợp, hay những hạt nguyên tử đang quay cuồng xoắn chặt vào nhau. Ðã nhiều loại nhiều thứ thì loại nào thứ nào là chủ ? Hoặc do nhiều thứ họp lại thành, tức không có thực thể. Không có chủ, không có thực thể, Phật gọi là vô ngã. Từ vô ngã là chỉ cho mọi vật do nhân duyên hợp không có chủ thể, nên nói "chư pháp vô ngã". Bởi vô ngã nên chúng ta không chấp mình thật, vật thật. Không chấp mình là không chấp ngã, không chấp vật là không chấp ngã sở. Không chấp ngã và ngã sở thì còn cái gì để chúng ta tham cầu. Nếu không tham cầu thì còn gì lo sợ, còn gì bực tức. Thế là do thấy được lẽ thật nơi con người và sự vật, chúng ta dứt được si mê. Do hết si mê, chúng ta dừng được tâm tham lam và nóng giận, ngang đây tam độc không còn. Ðó là kết quả tốt đẹp của người tu Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 144: Tăng giận không quá một đêm

Chủ yếu của người tu là phải chuyển tâm, khi tâm chuyển thì thân và cảnh mới chuyển theo. Nếu tâm không chuyển thì thân và cảnh không thể chuyển được.

Nóng giận làm thương tổn chính mình, chớ không phải thương tổn người khác. Tại sao? Bởi vì khi nóng giận, ta có những lời nói không hiền lành, tay chân không đàng hoàng, mặt mũi trừng trợn rất dễ sợ. Nóng giận làm cho mình mất đẹp mà lại còn khiến cho người ghét nữa. Như vậy thương tổn nhiều ít? Cái làm cho mình thương tổn quá nhiều, tai hại quá lớn như vậy tại sao ta không bỏ?

Trong nhà Phật có câu: “Tăng hận bất cách túc” nghĩa là Tăng (người tu) giận không quá một đêm. Chúng ta là Phàm tăng nên tham sân si cũng còn, vì vậy gặp việc trái ý cũng giận. Nhưng giận chút thôi rồi bỏ, chớ không nên chấp chứa. Cái gì qua rồi không chứa chấp nữa. Hơn thua, phải quấy, chuyện đó không có gì quan trọng. Quan trọng ở chỗ làm sao cuộc sống mình bình an, thanh thản, tươi vui. Đó mới là điều đáng lưu tâm.

Tất cả chúng ta đều sẽ chết, không ai thoát được, vậy ngày nào chúng ta còn sống nên đùm bọc nhau, thương yêu nhau để cùng hòa vui mà sống. Người tu theo đạo Phật là tự lợi, lợi tha là tự cứu và cứu người. Vậy chúng ta phải nỗ lực làm sao cho mình được vui tươi hạnh phúc, để rồi cái vui tươi đó lan đến người thân và những người chung quanh chúng ta. Đó là điều lợi mình lợi người.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 145: Ánh nhìn toàn diện không chấp trước

Mọi sự vật trên đời này chuyển biến tốt hay xấu là do tâm chấp hay không chấp của con người mà ra. Hiện tại có nhiều chuyện đâu đâu, người ta không nắm vững vấn đề mà ngồi cãi nhau om sòm mất thì giờ tổn hơi sức vô ích. Thế nên chúng ta phải có cái thấy hiểu chân chính, cái gì không có bằng cứ cụ thể chắc chắn thì đừng cải, nên cởi mở đừng bắt người ta phải nghe theo mình.

Người tu hiểu đạo và ngộ đạo rồi thì ăn thì ăn, ngủ là ngủ, không có vọng niệm xen tạp làm cho bỏ ăn mất ngủ. Người chưa hiều đạo thì ăn còn đòi ngon chê dở, ngù thì còn suy tính việc hơn thua. Quí Phật tử phải tu làm sao trong cuộc sống này chúng ta luôn luôn an vui không bị phiền não quấy nhiễu và khi chết cũng được an ổn tự tại. Tu nhân thế nào thì thành tựu quả thế ấy.

Phật dậy: Học đạo là phải biết tôn trọng chân lý. Chân lý không có một mặt hay một góc mà toàn diện. Nếu nhìn đơn thuần một mặt, chấp ít thì hai người cãi nhau, chấp nhiều thì tạo bè nhóm tranh nhau, chấp nhiều nữa thì cả nhân loại bắn giết tàn sát nhau. Người tu Phật là người phải thấy được lẽ thật, phải có cái nhìn bao quát, phải xét lại tâm mình mỗi khi gặp chướng ngại đễ bớt sanh ra phiền não và đau khổ.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 146: Tiến tu từng bước

Khi đã giữ tròn năm giới, người Phật tử có thể tiến lên tu thập thiện. Tức là làm mười điều lành: đã không sát sanh, lại còn phóng sanh; không trộm cắp lại còn bố thí; không nói dối lại còn nói lời hòa nhã làm cho người khổ được vui. Khá hơn thì người Phật tử tu những pháp thiền định cho tâm tư lóng lặng trí tuệ sáng suốt. Làm như vậy sẽ giúp các Phật tử được an vui hơn, tự tại hơn trong đời này và đời sau.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 147: Văn, tư, tu huệ

Chúng ta học với những bậc trưởng thượng, những người đi trước, các Ngài đem sự thấy, nghe, hiểu giảng dạy cho chúng ta. Chúng ta lắng nghe để nhập thần những điều ấy, đó là Văn. Tuy nhiên đạo Phật không cho phép chúng ta nghe rồi tin liền, mà phải vận dụng trí tuệ của mình để gạn lọc, suy lường, xem lời dạy ấy có phải là chân lý chưa, đúng lẽ thật chưa? Bởi vì những vị đi trước chúng ta cũng là phàm tăng chứ chưa phải thánh tăng. Đã là phàm thì có điều nói rất đúng nhưng thỉnh thoảng vẫn có điều nói sai. Vì vậy mà chúng ta phải gạn lọc, nghe rồi suy tư, gẫm xét lại điều chúng ta nghe có đúng lẽ thật hay không?

Khi suy gẫm xét đoán như vậy là chúng ta có trí tuệ nên gọi là Tư huệ. Có văn mà không có tư là thiếu sót lớn, bởi vì nghe đâu tin đó, nói đúng cũng tin, nói sai cũng tin thì người đó chưa đủ thông minh trí tuệ. Nên tư huệ là điều kiện thiết yếu giúp chúng ta mở sáng con mắt trí tuệ của mình. Nhưng tư không chưa đủ. Nghe và nghiệm lời đó đúng thì chúng ta phải tu, nghĩa là ứng dụng điều đó vào ngay trong cuộc sống. Đây gọi là Tu huệ.

Người thế gian cho rằng thân mình là thật nên giành giật danh lợi, tài sắc, gây tội chịu khổ trầm luân muôn kiếp. Nếu thấy giả thì những điều làm thương tổn, phiền hà người khác nhất định không làm. Được như vậy việc tu rất dễ dàng, nhanh tiến. Ngược lại nếu lầm tưởng thân là thật, dù ham tu nhưng rồi cũng muốn thọ hưởng, rốt cuộc chẳng tu tới đâu.

Chúng ta vì giác ngộ cuộc đời tạm bợ nên xuất gia cầu giải thoát sanh tử. Con đường đã vạch sẵn, những ngăn trở, chướng ngại đều nhất định vượt qua. Quả quyết như vậy nên ngày nào còn có mặt thì phải nỗ lực tu. Luôn luôn tỉnh giác thấy thân giả, lời nói giả, cuộc đời cũng giả thì sự tu dễ biết chừng nào. Lời khen tiếng chê chung quanh chỉ là trò chơi. Không có gì đáng để bận tâm, phiền lòng.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 148: Sẽ được như Phật

Người tu Phật mà thiếu giác ngộ là không phải người đệ tử chân thật của đạo Phật. Khổ đau gốc từ vô minh, muốn hết khổ đau phải dứt sạch vô minh. Chỉ có ánh sáng giác ngộ mới dẹp tan được màn vô minh, ngoài giác ngộ ra không còn cách nào dẹp được vô minh.

Giải thoát không phải sang thế giới kỳ đặc ở bên kia, không phải ngao du trong cảnh huyền bí mầu nhiệm, mà ngay nơi này tâm không dính mắc sáu trần là giải thoát. Còn dính mắc là trói buộc, không dính mắc là tự do giải thoát. Sự trói buộc dính mắc không phải lỗi tại sáu trần mà lỗi ở nội tâm.

Ai cũng có đức tính như Phật hết, tuy hiện tại thân tướng chưa đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, nhưng rồi sẽ có, nếu chúng ta đủ lòng tin và nổ lực tu rồi cũng sẽ được như Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 149: Quy y tiến tu

Mỗi người muốn đến với đạo Phật phải từ cửa Qui y mà vào, không như thế thì học Phật mất căn bản. Qui là trở về, y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, Pháp và Tăng là Qui y Tam Bảo. Nguyện noi theo con đường đức Phật đã đi là Qui y Phật. Quyết thực hành những lời chỉ dạy của Ngài còn ghi trong kinh điển là Qui y Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng Tăng là Qui y Tăng. Từ lâu, chúng ta mãi chạy theo dục lạc tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnh quyết định trở về nương tựa với Tam Bảo. Đây là sự hồi tâm tỉnh giác phát nguyện trở về của chúng ta. Sự tỉnh giác này là nền tảng của lâu đài trí tuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giác ngộ.

Quy y Tam Bảo là đem đời mình nương gởi nơi Phật, Pháp, Tăng. Sau khi quy y, Phật tử sống đúng theo đường lối Tam Bảo, nhất định có ngày sẽ đạt được kết quả như nguyện. Các đạo quả tốt đẹp, từ quả vị Hiền Thánh, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, cho đến Phật quả cao tột đều bước từ cấp quy y mà lên. Quy y được coi là nguồn phát nguyên của con sông từ thiện, là nền tảng của ngôi nhà đạo pháp.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 150: Sàn cát lấy vàng

Quí vị thấy tu là vui hay khổ? Nếu thấy tu là vui thì quí vị hãy nỗ lực cố gắng tu, để trở về cái chân thật hằng hữu, được niềm vui bất tuyệt. Ở thế gian này có ai giàu có thọ hưởng ngũ dục một cách đầy đủ mà khỏi đau bệnh, già yếu, chết chóc không? Từ ngàn xưa đến nay không ai tránh khỏi. Hưởng cái vui giàu sang sung sướng chỉ được mấy mươi năm, con người tưởng là lâu dài, cứ mải mê đuổi bắt nó. Khi nào thoát ra khỏi cái khổ sanh tử chúng ta mới được niềm vui chân thật lâu dài. Nếu còn ở trong sanh tử, dù nhiều tiền lắm của đến đâu cũng tiêu hoại. Chỉ có người biết trở về cái chân thật, tâm hết vô minh phiền não mới thoát khỏi mọi khổ đau, được niềm vui chân thật bất diệt.”

Phật tử ai cũng biết tham lam, nóng giận, si mê là tật xấu thì phải chừa bỏ. Còn trí tuệ từ bi quí báu thì nên trân trọng giữ gìn. Tham sân si dụ như cát sỏi, từ bi trí tuệ dụ như vàng. Chúng ta tu phải lọc đãi cát sỏi bỏ, lấy vàng kết tụ lại thành khối, như vậy mới thành công. Chúng ta ai cũng có sẵn tâm từ bi, có sẵn trí tuệ, chỉ cần làm sao phát huy được những của quí ấy thì thành tựu Phật đạo.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 151: Tâm và thân người

Phật dạy: Tâm người là nguồn ác, thân người là rừng tội lỗi. Quán sát như thế dần dần xa lìa sanh tử. Tại sao Phật nói tâm người là nguồn ác, thân người là rừng tội lỗi? Ví dụ khi tâm mình khởi nghĩ một điều gì, thì cho điều mình nghĩ là đúng, là chân lý, nếu có ai cãi lại hay chống đối thì tức giận mắng chửi hay đánh đập. Tất cả mọi mầm mống đấu tranh đều từ tâm mà ra. Khi đã đấu tranh là có âm mưu có ác ý hãm hại người, để thỏa mãn ý muốn của mình, nên không ngần ngại gây khổ cho nhau. Như vậy, tâm rõ là nguồn cội của tội ác. Còn thân khi muốn ăn một bữa ngon miệng thì phải mua gà vịt. về cắt cổ nhổ lông để lấy thịt mà ăn. Muốn cho thân này được no ấm sung túc thì khi làm ăn với người mặc nhiên tranh giành lợi lộc về mình. Có người vì nuôi thân mà phải làm những nghề như giết heo, giết bò. Hoặc vì quá mê mờ muốn có của để nuôi mạng sống, họ sẵn sàng giết người cướp của. Hoặc người có tham vọng chiếm đoạt quyền thế địa vị, mà bị người khác cản trở ngăn chận thì không ngần ngại dùng những thủ đoạn độc ác như ám sát, bắt cóc, vu khống. Vì tham vọng cho bản ngã mà thân tạo vô số tội lỗi, nên nói thân là rừng tội.

Người khi thấy thân ngũ ấm là vô ngã, thì không còn chấp cái suy nghĩ của mình là đúng là chân lý, không còn thấy thân mình là quí là trọng, thì mọi sự hơn thua tranh chấp giữa mình với người, giữa nhóm này với nhóm khác không còn nữa, thế giới sẽ thái bình, nhân loại sẽ an lạc.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 152: Tâm vọng không thật có

Vọng Không Thật Có – “Biết vọng không thật liền hết vọng”

Kinh Kim Cang, Phật dạy: “Tam tâm bất khả đắc” ( quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc ). Ba thời tìm tâm không thể được.

Sơ Tổ dạy Ngài Huệ Khả: “Đem tâm ra đây ta an cho…” Huệ Khả tìm tâm chẳng được. Liền đó Tổ nói: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”.

Mỗi lời dạy của Phật, Tổ tuy khác nhau, nhưng đều có ý bảo là “vọng tâm” không thật có. Nếu hành giả khi tu thiền khởi tu “Biết vọng không thật” tức liền hết vọng. Vọng tưởng do bóng dáng sáu trần, ngoài sáu trần tức tâm (vọng) không thật có.

Gốc mê lầm bởi nhận lầm vọng tưởng cho là tâm mình mà thôi.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 153: Tin Phật

Chúng ta học Phật phải tin nơi Phật, không tin nơi người, hãy giữ pháp gốc không nên theo ngọn ngành. Bây giờ người học Phật hay có cái bịnh tin nơi người hơn tin nơi Phật và tu theo ngọn ngành hơn là giữ nơi pháp gốc. Ví dụ như có người mang hình thức người tu, trong chùa cũng thờ Phật Tổ, nhưng dạy tín đồ tu không dính dáng tới kinh Phật dạy. Như lối tu thiền chuyển luân xa hay xuất hồn ngao du đó đây. Chúng ta nghiên cứu kinh điển xem thử, Phật Tổ có dạy tu như vậy không ? Thế mà tín đồ Phật giáo nghe nói cũng tin và cho là mình tu theo Phật, thật là oan cho Phật biết bao nhiêu. Cho nên người học Phật, trước phải nghiên cứu giáo lý cho kỹ, để người hướng dẫn mình tu dạy đúng hay sai kinh Phật, chúng ta cũng biết. Nếu không dính dáng gì tới kinh điển Phật Tổ nói, thì nhất định không tin, chớ không phải bạ đâu tin đó, có hại cho sự tu hành. Một phen lạc vào tà đạo thì khó gỡ ra.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 154: Đối chiếu với Kinh điển

Bây giờ đa số người tu, ham tu theo ngọn ngành, chẳng hạn như ham làm phước, tổ chức hội họp cúng kiến linh đình, ít ai chịu ngồi lại thanh lọc thân tâm. Ðã vậy, nghe nói tới tu thiền, thì nói: "Coi chừng tu thiền điên à!". Như vậy, chúng ta thấy có thủ chứng nơi pháp gốc không? Thưa quý vị, ngày xưa đức Phật Thích Ca, người sáng lập ra đạo Phật, tu pháp gì mà thành Phật? Có phải ngài ngồi thiền bốn mươi chín ngày dưới cội Bồ đề không? Lịch sử còn ghi lại và cả thế giới đều ghi nhận điều đó. Kế tiếp đến là Tổ Ca Diếp, A Nan đệ tử lớn của Phật và chư Tổ sau này, cũng đều tu thiền, chớ có tu pháp nào khác đâu? Tam tạng kinh điển kể cả tạng Pàli và Hán văn, Phật đều dạy tu thiền, vậy mà dám nói tu thiền là điên, có phải người đó điên đảo không? Thế mà Phật tử, kể cả một ít Tăng Ni nghe nói thế cũng đâm hoảng, không dám tu thiền. Lại còn một số người bảo nhau: "Coi chừng tu thiền, mười người lạc hết chín rồi đó". Ðó là bịnh của đa số người tu bây giờ. Tu mà không chịu học hỏi giáo lý kinh điển để rồi tu mù, ai nói trúng trật gì cũng tin, không chịu tìm nguồn gốc, không chịu đối chiếu lời Phật dạy trong kinh mà y cứ tu hành. Do đó, sanh ra nhiều chứng bịnh, thường gọi là Bịnh thời đại.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 155: Người có tâm từ bi

Muốn được hỷ xả chúng ta phải có từ bi. Có thương thì mới có tha thứ. Người đó làm tức mình, khổ mình mà mình không giận họ tại vì mình thương họ. Khi mình thương, chuyện lớn cũng biến thành nhỏ. Khi mình ghét, chuyện nhỏ cũng biến thành lớn.

Từ bi là tập tình thương dành cho tất cả mọi người, bất luận hiền lành hay hung dữ, ta đều thương đều giúp đỡ như nhau. Người đã tạo những điều xấu xa, ai cũng ghét bỏ nên rất khổ. Đôi khi chính sự ghét bỏ này làm cho họ càng dữ hơn, nên ta cần phải thương họ. Đối với người hung dữ, chúng ta tìm cách nhắc nhở khuyến dụ cho họ trở thành người hiền. Như vậy mới thực là người có tâm từ bi, không bỏ một ai.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 156: Không dính mắc sáu trần

Ngồi thiền là một phương tiện thù thắng nhất, bởi vì sáu căn tiếp xúc sáu trần, cái gì mạnh nhất? Con mắt thấy sắc, lỗ tai nghe tiếng. Con mắt thấy sắc không chưa nên tội, lỗ tai nghe tiếng không chưa nên tội. Có cái gì nữa mới thành tội ? Có ý phụ họa theo nữa mới thành tội. Thấy sắc rồi liền dấy niệm phân biệt đẹp xấu nên thành tội. Nghe tiếng rồi ý phụ họa theo, nói hay dở nên thành tội. Như vậy tuy nói sáu căn dính theo sáu trần, nhưng thật ra cái dính theo là ý. Ý là chủ động để dính. Nếu không có ý thì không dính gì hết. Ý là chất keo, hướng theo cái gì thì dính mắc cái đó.

Mỗi đêm chúng tôi bắt Tăng Ni ở các thiền viện đều làm lễ Sám hối lục căn. Đó là tôi muốn cho Tăng Ni luôn luôn gỡ những dính mắc đối với sáu trần, những gì lâu nay chúng ta quen bị nó cột trói, bây giờ gỡ lần, đừng để cho dính mắc nữa. Làm sao sáu căn chúng ta đối với sáu trần dửng dưng, không còn bị nó lôi kéo, đó là chúng ta đã thành công. Cho nên mỗi đêm quý vị đừng sợ đau gối, rán quì Sám hối, đem hết tâm thành của mình Sám hối cho tha thiết. Sám hối để hổ thẹn, biết rõ điều đó là xấu, là tội lỗi mình chừa tránh, đừng cho dính mắc. Nếu không dính mắc sáu trần thì tâm dễ an vô cùng. Còn dính một trần nào cũng đều là bất an hết. Đó là gốc của sự tu.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 157: Khéo điều hòa

Đừng mang tâm trạng tìm lỗi người khác, mà phải luôn nhìn lại lỗi mình. Tu cốt yếu là dẹp lỗi lầm của mình, phá sạch tâm phiền não, buông xả lòng yêu ghét, có như vậy mới thảnh thơi hết khổ. Cố gắng buông xả hết, thì mới có thể tiến tới chỗ an vui. Khi mình được an vui thì người cũng được an vui lây, nếu mình cố chấp, phần mình đã khổ lại còn làm khổ lây người khác.

Chúng ta tu hành nên sống đem lại an vui cho mình, cho người. Muốn được như vậy mình đừng xem ai là kẻ thù hết. Làm sao trong cuộc sống gia đình chồng vợ biết nhịn nhau, đã là bạn đời nên hòa vui, đừng bao giờ thù hận. Cuộc sống từ cá nhân, gia đình cho tới tập thể, không bao giờ hoàn toàn đúng theo ý mình, được chừng sáu mươi, bảy mươi phần trăm là tốt lắm rồi, đừng đòi hỏi như ý một trăm phần trăm. Những người đòi hỏi như vậy là hiểu sai lầm, không đúng lẽ thật. Phương pháp nhẫn nhịn sẽ đưa chúng ta tới chỗ an ổn. Nhẫn nhịn là khéo léo điều hòa ngọn lửa, đừng để nước dập tắt lửa, cũng đừng để lửa đốt cạn nước.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 158: Xiển dương Thiền Tông Việt Nam

Sở dĩ tôi đem hết tâm huyết xiển dương Thiền tông Việt Nam bởi những lý do sau đây:

– Thứ nhất là vì thấy Phật giáo Việt Nam hiện nay quên mất cội gốc của mình, nên tôi cố gắng khơi dậy để làm sống lại Thiền tông Việt Nam, tạo chỗ dựa vững chắc cho Phật giáo Việt Nam hiện tại và mai sau.

– Hai là vì muốn giới trí thức hiện tại và tầng lớp thanh niên sau này không lãng quên Phật giáo Việt Nam, nên tôi cố khôi phục Thiền tông Việt Nam, để họ thấy Phật giáo là thực tế, là chân thật, gắn bó với dân tộc và hữu ích cho mọi người.

– Và lý do thứ ba là bảo tồn cái tinh ba trong sáng của của Phật giáo, tôi truyền bá phương pháp tu thiền để mọi người thấy rõ mục đích Phật giáo là giác ngộ, giải thoát sinh tử, đồng thời đánh tan đám mây mù mê tín dị đoan đang bao phủ hầu hết chùa chiền trên đất nước ta.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 159: Không sa lầy phương tiện

Tu thiền là một pháp tu thực tế phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại. Tâm chúng ta khởi vọng tưởng phiền não, chúng ta khéo quán thì vọng tưởng lặng, hết phiền não, tâm an định. Tu tới đâu có kết quả lợi ích tới đó, rất cụ thể, không xa vời. Vọng tưởng phiền não là cái không thật hư ảo, nơi mình sẵn có Phật tánh là cái chân thật bị vọng tưởng phiền não che khuất, bây giờ bỏ hết vọng tưởng thì Phật tánh hiện ra.

Người tu là người tìm ra con đường sáng suốt giác ngộ cho mình và mọi người. Tăng bảo là những vị tăng thanh tịnh cao cả, truyền trì mạng mạch của Phật pháp, chớ không phải thầy cúng đi đám cho Phật tử vui. Chúng ta thăm viếng khi hữu sự cho có đạo tình một chút với Phật tử, tạo niềm an ủi để hướng dẫn họ đi theo con đường chánh thì được. Còn cứ mải miết theo cái thường tình thế gian, rồi mắc kẹt ra không được gọi là sa lầy trong phương tiện.

Thiền là tự thắc mắc một vấn đề quan trọng, tìm tòi theo dõi luôn đến khi sáng được vấn đề đó mới thôi. Khi sáng được vấn đề là phát minh một kỳ bí mà trước kia mình không hiều, không biết. Chủ yếu của thiền là phát minh, cũng gọi là giác ngộ. Thiền đào tạo những con người hùng dũng, phát minh, và sáng tạo chính là cốt lõi của đạo Giác Ngộ Giải Thoát.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 160: Lấy giới làm căn bản

Chúng ta bước chân vào đạo, trước phải lấy giới luật làm sợi dây để cột tâm buông lung vọng tưởng phần nào, kế đó mới đem những giáo lý cao siêu ra ứng tu hành để thoát khỏi mê lầm. Vì thế, ở đây tuy là một Thiền Viện, song cũng phải giữ tối thiểu 10 giới làm căn bản. Có nhiều vị cho rằng tu thiền cần gì giữ giới?

Quan niệm của tôi thì không như vậy. Nếu tâm chúng ta được nhất như thì giới luật cũng bằng thừa. Nhưng tâm còn xao động, còn đang chạy theo sáu trần mà không có giới luật làm sao ngăn nó nổi? Giới luật chẳng khác nào hàng rào của Thiền viện vậy. Hàng rào có cổng khóa đàng hoàng thì trong khó ra, mà ngoài cũng khó vào, nhờ vậy mà hạn chế được tâm phóng túng. Sau đó mới học cách tọa thiền ngồi yên một chỗ. Đến khi nào tất cả trong chúng đây tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng ứng dụng Bát Nhã, hoặc dùng Bát Nhã chiếu soi chẳng phút giây quên, hoặc hằng sống với tâm nhất như không bao giờ loạn động, thì lúc đó có hàng rào của Thiền viện cũng bằng thừa. Còn bây giờ tâm mình còn loạn, ngồi lại thì nhớ người này, nghĩ việc nọ, nên phải cần có hàng rào để ngăn chận, bớt những cái nghĩ tưởng sằng bậy của chúng ta. Cũng vậy, giới luật là hàng rào để gìn giữ thân tâm. Muốn đạt đến chỗ cao siêu trước phải lấy giới luật làm căn bản lúc sơ cơ, sau ứng dụng liễu nghĩa thượng thừa mới dễ thành tựu.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 161: Tự mình cởi trói

Chúng ta sở dĩ khổ đau là vì chúng ta ái ngã, thương thân này quá. Thương thân này thì thân này bị già, bị bệnh, bị chết là chúng ta phải khổ. Từ ái ngã, cho thân mình là quý nên ai xúc phạm tới nó thì nổi sân. Thân mình, mình thương, mình quý nó nên ai khinh, ai chê mình tức giận. Từ ái ngã là tham, rồi tới sân, rồi đủ thứ si mê theo đó. Chúng ta quan sát được như vậy, thấy tường tận như vậy, đó là có trí tuệ.

Có lắm người đòi hỏi tự do, mong cầu giải thoát, mà cứ đòi hỏi nơi kẻ khác, mong cầu nơi bề trên, hoặc đôi khi chà đạp tự do của người khác để mình được tự do – những điều này thật là việc mò trăng đáy giếng, bắt bóng trên không, không có kết quả. Đễ đạt được tự do và giải thoát, qúy Phật tử nên trông cậy vào mình, tranh đấu với mình, tự dứt sạch những bệnh ghiền, những phiền não, và lấy giáo lý của đạo Phật làm tiêu chuẩn. Không ai cởi mở được cho ta, chúng ta phải tự cởi mở lấy.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 162: Đền ơn khó đền

Tôi thấy nhiều người chưa tu mà có tâm rất thật thà đáng mến. Ngược lại nhiều người tu mà có tâm lợi dưỡng, cầu danh thì thật là quá tệ. Tăng Ni đã có duyên ở chùa, phải quyết tâm nỗ lực tu cho xứng đáng là người xuất gia. Ðừng làm cây lục bình ở dưới sông, nước lên thì trôi lên, nước rút thì trôi xuống. Phải tự quyết định đời mình, vì không ai bắt mình vào chùa, mà mỗi người tự phát nguyện đi tu, để giải khổ cho mình và độ người hết khổ. Thế mà sau khi cạo tóc ở chùa, tới giờ tụng kinh thì bê tha, tỏ ra mỏi mệt không muốn tụng, tới giờ ngồi thiền thì ngáp dài ngáp vắn không muốn ngồi. Như vậy có phải tự mình phản bội chí nguyện xuất gia của mình không? Tư cách đó không phải là tư cách của người quyết chí thoát trần. Vậy tất cả Tăng Ni phải cố gắng tu hành cho xứng đáng là người xuất gia thoát tục, để mai kia nhắm mắt theo Phật, thì những việc mình làm để lại cho người sau là cái gương tốt, mới không hổ thẹn một đời tu và đền được cái ơn khó đền.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 163: Chỉ có mình mới trở ngại chính mình

Ở thế gian này người ta ghét nhau bởi cái gì nhiều hơn hết? Đa số là do cái miệng. Vậy tất cả nhớ tu cái miệng tức là tu khẩu nghiệp. Mỗi khi nói ra là phải lựa lời mà nói, lời lành thì nói, lời dữ thì chừa, an ủi khuyên lơn giúp đỡ mọi người từ vật chất lẫn tinh thần cho họ được vui vẻ. Như vậy mới đem an vui lại cho mình cho người.

Con người có khổ là do tham, nhìn thấy người vật, nếu vừa lòng thích ý thì muốn chiếm đọat về mình, muốn mà không được thì buồn khổ, tham nhiều thì khổ nhiều. Đễ bớt lòng tham, quý Phật tử phải tập tu an phận trong nếp sống thanh bần, thấy người đi xe tốt là việc của họ, mình đi xe đạp là hạnh của mình, không khởi tâm so sánh đua đòi, thì tâm bình thản an ổn. Như vậy, mình sống ở cảnh nào cũng vui, cũng an.

Phật dạy người có nhiều đức tính tốt hơn ta là bậc thầy ta, ta học những cái hay của họ. Người có cái dở hơn ta cũng là bậc thầy của ta, ta cũng học để tránh. Người trợ giúp kéo mình lên từ từ, người làm chướng ngại giúp mình nhảy vọt; không có người nào để cho chúng ta chê chán cả. Chỉ có chán cái hèn yếu của mình. Không có cái gì ở bên ngoài hại mình bằng chính mình không làm được chủ được tham, sân, si nơi mình.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 164: Tu thiền đi từ lý Bát Nhã

Tu thiền để dừng lặng tâm lăng xăng. Tâm lăng xăng lặng xuống thì tâm chân thật hiện đủ. Đó là giác. Giác bằng cách thực hiện ngay nơi mình, chứ không phải tìm kiếm ở đâu khác.

Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã. Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không ? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó.

Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định, còn dính mắc thì không bao giờ an định.

Thí dụ chúng ta vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao? Mình phải trả lời sao cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 165: Hạnh nhẫn

Trong kinh Phật dạy, muốn trị bệnh sân phải dùng thuốc nhẫn nhục. Nhẫn nhục trị sân nhuế. Trong ba nghiệp, ý dấy khởi trước rồi tới miệng, tới tay chân. Nhưng ta lỡ nổi nóng, la hoặc đánh chửi người ta một hồi rồi làm sao nhẫn, sám hối muộn quá. Cho nên phải nhẫn trước khi tạo các hành động xấu. Nhẫn tức là nhịn, muốn nhịn phải có phương pháp, có kinh nghiệm trong sự tu. Tu không phải là chuyện ở bên ngoài mà ngay nơi bản thân mình, nội tâm mình, từng phút từng giây chúng ta phải loại bỏ những điều xấu, nuôi dưỡng những điều tốt.

Nhẫn không có nghĩa gồng mình chịu, mà dùng trí tuệ thấy đúng lẽ thật, buông xả mọi hơn thua phải quấy với người, không cố chấp phiền hận. Người chửi mình, mình không nhận, đó là xả bỏ. Nếu bị chửi một câu mà nhớ hoài không quên, rồi sanh sân si phiền não thù hằn tự mình chuốc khổ và làm người khác khổ lây, đó là không nhẫn, không tu. Có nhẫn nhục chúng ta mới thành người Phật tử chân chính.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 166: Học và hành thực

Chúng ta hiện nay dù không hoàn toàn thấy thân này là giả, mà biết nó vô thường, tạm bợ, tức cũng nhận được phần nào. Cảnh cũng vậy, chúng ta biết nó vô thường, tạm bợ, không phải thật. Biết được thế là chúng ta đi trên đường tối nhưng cũng có ánh sáng loe lóe của một hai con đom đóm. Đó là bước đi rất thiết yếu của người tu. Cho nên làm sao phải thấm, phải hiểu sâu lý Bát-nhã mới được, nếu không thấm, không hiểu sâu lý Bát-nhã thì khó ra khỏi sanh tử.

Chủ yếu của người học đạo là học cho biết để thực hành, chứ không phải lấy kiến giải làm sở đắc, nếu lấy kiến giải làm sở đắc, thì ngàn đời không thấy được chân lý ! Hậu vận Phật giáo sẽ ra sao nếu trong giới tu sĩ không có những người thực chứng ngộ? Có nhiều quyển sách của các học giả viết về đạo Phật, lý luận làm cho người đọc thêm rối, đưa người đọc lạc vào rừng ngôn ngữ không biết lối ra. Muốn hiểu đạo lý, muốn giải thoát sanh tử thì học rồi phải thực hành, mới mong thấy được manh mối của sự giải thoát, đó là Giải hạnh tương ưng. HòaThượng pháp chủ Khánh Anh có để lại hai câu bất hủ trên giảng đường chùa Xá Lợi: “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là đãy đựng sách”. Đó là một lẽ thật chúng ta cần xét kỹ.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 167: Buông chấp

Lâu nay chúng ta có bệnh thắp hương cầu nguyện, lạy Phật cho con tu hành được giải thoát. Phật làm sao giải thoát cho mình, nếu tâm niệm chúng ta cứ liên tục đuổi theo cái sanh diệt.

Đức Phật thường nhắc chúng ta phải tự giác ngộ, tự giải thoát, Như Lai không giải thoát thế cho mình được. Chúng sanh yếu đuối, không chịu tự làm, lúc nào cũng ỷ lại, trông cậy vào đức Phật. Hiểu như vậy rồi, trên đường tu mỗi người tự nỗ lực. Chỉ thay đổi thói quen một chút, đừng thèm chạy theo phải quấy, hơn thua, thương ghét…là được.

Giả sử mình ngồi đây, người ta kêu tên chửi cũng kệ, không có gì quan trọng. Không chạy theo tiếng chửi ấy thì không nói bậy, tâm thanh tịnh. Nếu nghe động đến tên mình liền nhúc nhích, nhảy ra gây gổ, thành ra cả ngày giận hờn, thương ghét liên miên. Như vậy làm sao thoát ly sanh tử được ?

Thiền tông chủ trương vô niệm vi tông, tức lấy không niệm làm tông chỉ. Không niệm thì còn gì dẫn đi trong sanh tử. Đó là lẽ thật. Tôi thấy tu không khó, nếu khó là vì mình chưa đủ can đảm, những thứ rất phàm tục mà cứ nuôi dưỡng hoài. Nếu ai cũng biết buông xả, sống với tâm thanh tịnh thì mình trở thành người khờ nhất thế gian. Thiền sư thường bị người ta coi như ngây, như ngô là vậy.

Tôi bây giờ quên hết. Quên tên đường, quên tên người, cho tới những vị rất gần cũng quên. Thấy mặt thì biết quen mà không nhớ tên, vì trong tâm không chứa chấp gì cả. Do quên nên gặp chỉ cười thôi, không có gì để nói. Bây giờ đi thăm mấy thiền viện không nhớ đường. Ai dẫn thì đi, không dẫn thì thôi. Người ta nói mình càng tu càng ngu, phải không ? Người ta tưởng tu nhiều lanh lợi nhiều, nhưng không phải, càng tu càng khờ. Sống với cái chân thật thì không phân biệt lanh lợi. Lanh lợi đó là sanh tử, ai càng lanh lợi thì người ấy càng khó thoát ly sanh tử.

Có tu tôi mới thấy ngơ ngáo xuất hiện. Vì vậy ngang đây tôi không giảng nữa, quên hết rồi còn gì để mà giảng đây. Cũng không đọc sách, vì đọc sách chỉ tăng thêm kiến giải. Không đọc sách, không đi giảng, từ từ cũng ngáo thôi. Ngáo nhưng mà vui. Trong lòng không vướng mắc, thanh thản nhẹ nhàng, không có gì phải bận rộn.

Tôi kinh nghiệm thấy rõ hướng đi và phương pháp tu để giải thoát sanh tử. Tuy nhiên, làm được hay không cũng còn tùy hoàn cảnh, tùy ý chí mỗi người. Tu thì phải lặng lẽ mà tu. Tăng Ni tự lo liệu việc tu của mình, huynh đệ sách tấn nhau tu hành. Tôi đã làm hết bổn phận của mình đối với tăng ni. Những năm già tôi muốn sống khờ khạo, làm người ngơ ngáo, tu một mình ở thất vậy thôi. Tu một mình mà cười chứ không buồn.

Trên đường tu, nếu mình ứng dụng đúng phương pháp thì sẽ đi đến kết quả đúng, không có gì lạ. Chuyện khôn ngoan lanh lợi trong việc học hỏi chỉ là kiến giải, giúp chúng ta hiểu đạo chứ không đưa đến giác ngộ giải thoát. Do vậy thiền sư lúc nào cũng ít ngôn ngữ, đơn giản, cốt đánh thức chúng ta tự biết trở về nương tựa nội tâm của mình. Cho nên "trực chỉ nhân tâm", chỉ thẳng tâm người là chủ yếu của nhà thiền. Nhận được chỗ này thì kiến tánh thành Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 168: Không trách người trách cảnh

Nói theo đạo lý chân thật, thì thế gian này không ai phá mình cả, chỉ có mình phá mình. Vì tất cả cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu nó không bắt mình thành tốt hay thành xấu, mà chính mình mới thành tốt hay thành xấu.

Người ta cứ đổ thừa : bị tiền tài, sắc đẹp … nó cám dỗ tu không được. Ví dụ có một Phật tử mới phát tâm tu, đi đường bỗng thấy một thỏi vàng rớt trên đất, liền động lòng tham lượm bỏ túi, từ đó tâm bất an, toan tính đủ chuyện hết. Bất an là do không điều phục được lòng tham, lòng nó quấy phá mất thanh tịnh mà đổ thừa vàng nó cám dỗ. Nếu thấy vàng thì thấy, đi cứ đi, không bận lòng thì có gì trở ngại ? Để thấy rằng trong cuộc đời này không có cái gì ở bên ngoài hại mình bằng chính mình không làm chủ được tham, sân, si nơi mình. Đó là cái gốc của mọi tai họa. Nếu biết gốc của tai họa từ tham, sân, si ở nơi mình thì phải thẳng tay mà điều phục nó, chớ không có kêu ca than trách người, cảnh. Nếu ngồi trách người trách cảnh, đó là người che lỗi mình, bào chữa cho mình.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 169: Trị tâm bệnh

Ở thế gian, thầy thuốc trị về thân bệnh. Trong đạo, Phật trị tâm bệnh. Giữa hai việc điều trị đó, việc nào quan trọng hơn? – Điều trị tâm bệnh quan trọng hơn. Bởi vì dù thầy thuốc hay mấy, biết bệnh nhân đang bị đau tim, hay đau phổi, thầy thuốc có thuốc nhưng người bệnh cứ rầu, cứ buồn, thì trị nổi không? – Không nổi. Vì tâm người bệnh không an, không vui thì điều trị khó lành. Vì vậy nên tâm bệnh rất là hệ trọng. Nếu thầy thuốc có được hai phương thuốc, một trị thân bệnh, một trị tâm bệnh thì hay biết mấy. Trị như vậy mới toàn hảo, còn chỉ một phần thì chưa được.

Để trị tâm bệnh Phật dạy những pháp để tiêu trừ nguyên nhân sanh ra bệnh. Bệnh của chúng sanh tới tám muôn bốn ngàn, pháp của Phật cũng có tới tám muôn bốn ngàn. Nhưng nói về cội gốc của bệnh, thì có sáu thứ căn bản phiền não. Trước khi nói pháp trị bệnh chúng ta cần phải biết các thứ bệnh. Bệnh tình đó đang thế nào, muốn giới thiệu thuốc thì phải biết hậu quả hay hiện trạng bệnh đang hoành hành ra sao.

Bây giờ thử nghiệm lại tất cả chúng ta trong hiện đời khổ hay vui? Nếu vui thì không có bệnh, không bệnh thì cần gì thuốc. Nếu có bệnh mới tìm nguyên nhân gây bệnh và trị bằng cách nào. Trong nhà Phật nói con người bị bốn, hoặc tám thứ khổ vây hãm, không ai thoát khỏi. Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, có ai khỏi đâu? Như vậy quả thật chúng ta là bệnh nhân rồi. Ngoài ra còn ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Nghĩa là thương yêu xa lìa khổ, oán thù mà gặp mặt hoài khổ, mong muốn không được khổ, thân này tự bại hoại không an khổ. Kiểm lại trong tám thứ khổ chúng ta đều có đủ. Rõ ràng xác định được chúng ta là bệnh nhân rồi, thì mới nói tới trị liệu.

Muốn trị bệnh thì phải phăng tìm nguyên nhân. Nguyên nhân nào sanh ra những thứ khổ đó. Phật nói nhiều lắm nhưng ở đây tôi chỉ kể sáu thứ: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Vì có nhân này nên có quả kia. Thí dụ như tham, căn bản là tham sống. Có người nào không tham sống sợ chết đâu? Nhưng rồi cũng phải chết, bởi vậy nên khổ. Bây giờ mình hết tham sống thì không sợ chết. Mà không sợ chết thì đâu còn khổ.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 170: Nuôi dưỡng chí nguyện xuất gia

Đức Phật dạy cho hàng cư sĩ tại gia hạnh "ly nhiễm xuất thế". Nghĩa là lìa xa ô nhiễm và ra khỏi thế gian. Vì sao ? Vì năm dục tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc, thanh, hương, vị, xúc là lỗi lầm là tai họa, khiến cho con người chịu nhiều khổ đau truyền kiếp. Thế nên người cư sĩ tại gia biết rõ tai họa của năm dục, thân tuy còn trong thế tục, mà không nhiễm trước dục lạc thế gian, lại còn nuôi chí nguyện xuất gia để thực hành hạnh tự giác giác tha. Nghĩa là tâm thường nhớ tưởng mong cầu ngày nào đó, mình sẽ được xuất gia thoát tục, đắp y mang bát đi khất thực, sống phạm hạnh thanh tịnh, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, chớ không ở hạn hẹp trong phạm vi gia đình nhỏ bé. Vì thế mà người Phật tử học đạo có tâm cầu tiến, phải nuôi chí xuất trần siêu việt, không tự mãn mình là cư sĩ tu giữ năm giới đủ rồi. Người có quan niệm như vậy là người không cầu tiến, đã dẫm chân đứng tại chỗ. Chúng ta tu cũng giống như học trò đi học, học hết chương trình cấp một, phải lên cấp hai, cấp ba rồi lên đại học. Nếu chỉ học cấp một rồi dừng ngang đó, thì kiến thức chẳng được bao nhiêu và không thể dạy lại cho người sau.

Nếu đời này Phật tử lỡ tạo những nghiệp duyên ràng buộc, chi phối khó tu không thể cắt gỡ ra được, phải cố gắng gieo duyên lành, nguyện đời sau sớm gặp Phật pháp để xuất gia. Nếu không nuôi chí nguyện như thế, thì đời này kiếp khác mãi vướng bận trần lao, không bao giờ ra khỏi. Vì sao ? Vì đời sống của người cư sĩ tại gia lắm điều ràng buộc, nhiều chướng duyên ngăn ngại khó tu khó tiến. Nhìn vào lịch sử chúng ta thấy hai vị giáo chủ của hai tôn giáo lớn là Phật và Chúa, và những bậc đắc đạo giải thoát, đa số là người xuất gia từ bỏ gia đình nhỏ hẹp buộc ràng, sống đời sống vô gia đình vì nhân loại vì chúng sanh. Tuy nhiên, cũng có vài trường hợp đặc biệt, ở Trung Hoa có Bàng Long Uẩn, ở Việt Nam có Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Thánh Tông là những cư sĩ ở trong trần thế mà không nhiễm bụi trần.

Tóm lại, Phật khuyên hàng cư sĩ tại gia, tuy đang ở trong trần lao ô nhiễm, tâm luôn nhớ dục lạc thế gian là lỗi lầm là tai họa, phải nuôi chí nguyện xuất trần, giữ phạm hạnh thanh tịnh làm lợi ích cho chúng sanh.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 171: Niệm ngu niệm trí

“Một niệm ngu tức Bát-nhã bặt, một niệm trí tức Bát-nhã sanh”

Như vừa rồi tôi nói, nếu chúng ta thấy vật gì liền cho là đẹp, đó là niệm ngu. Ngu thì khi ấy có Bát-nhã không? Bát-nhã là thấy các pháp như huyễn, nếu thấy vật đẹp thì vật là thật nên ngu, tức mất Bát-nhã. Trái lại, vừa thấy một vật gì liền biết đó là tướng duyên hợp không thật, vì biết không thật nên tâm không dính mắc thì Bát-nhã sanh. Thế nên niệm ngu thì Bát-nhã tuyệt, niệm trí là Bát-nhã sanh. Tôi giảng cho quí vị thấy cái ngu, cái trí. Thấy người, thấy vật, duyên theo để phân biệt đẹp xấu hoặc khen chê, đó là niệm ngu; thấy người thấy vật mà khởi quán các pháp, người vật đều duyên hợp không thật, đó là niệm trí. Niệm ngu thì bị tham sân si dẫn, niệm trí thì tâm an, biết là huyễn tức nhiên tâm lặng, tức là sống với Trí tuệ Bát-nhã. Hai niệm đó, có niệm này là mất niệm kia. Niệm trí là chúng ta thắp đèn, đốt đuốc, niệm ngu là chúng ta đi trong đêm không đèn, không đuốc để rồi phải đau khổ. Quí vị thử nghiệm xem! Thấy người, thấy vật nhưng luôn luôn sống với niệm trí thì có đau khổ không? Hẳn là không. Như vậy rõ ràng khổ hay hết khổ là do mình sống với trí hay với ngu. Ngu là vô minh, nó dẫn chúng ta đi trong chốn khổ đau, trầm luân sanh tử. Còn niệm trí là trí tuệ để giác ngộ thành Phật. Như vậy sự tu hành thật là cụ thể. Nếu đối duyên, đối cảnh chúng ta luôn luôn sống với niệm trí thì chúng ta giải thoát sanh tử; trái lại đối duyên đối cảnh chúng ta sống với niệm ngu thì chúng ta luân hồi không cùng.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 172: Tu để làm gì

Mỗi lần nhìn cảnh chết chóc, sao tôi thấy con người mê lầm đáng thương. Ai kia mới vừa tới lui, qua lại, ăn nói xử sự khéo léo mọi người ưa mến, giờ đây tắt thở, nằm đó, những cái xử sự khéo léo, khôn ngoan lịch duyệt đâu rồi ? Nếu không mai táng kỹ lưỡng, mà để chán chường chừng năm ba ngày trên mặt đất thì mọi người đi ngang qua đó phải bịt mũi. Vô lý làm sao! Bây giờ chúng ta ăn nói khôn ngoan, xử sự khéo léo, làm việc giỏi giang, khi tắt thở nằm sáu bảy ngày ai thấy cũng ghê sợ. Vậy cái khối xương thịt nằm sáu bảy ngày ai thấy cũng ghê sợ đó có phải là ta không ? Thế mà muôn người như một chỉ biết cái đó thôi ! Chúng ta là những người tu, do không chấp nhận sự mê lầm đó, nên mới vô chùa cạo đầu tu.

Vậy tu để làm gì?

– Để tìm cho ra cái ta chân thật, thế nên mới miệt mài ngày này qua tháng nọ, ngồi yên lặng để tìm cho ra cái chân thật. Đó là mục đích của sự tu hành. Không phải chúng ta vào chùa, cơm ngày hai bữa lơ lơ lửng lửng, chờ tới ngày chết thành cái thây thúi, mà phải đem hết tâm lực phăng tìm cho ra cái ta thật. Rồi sau đó nhắc nhở chỉ dạy cho những người chưa biết tìm ra như chúng ta, đó là truyền pháp lợi sanh. Nếu đi tu mà chúng ta không biết ta là cái gì, truyền pháp lợi sanh là truyền cái gì, chỉ biết học lóm nói cho vui tai thì chẳng có lợi ích. Cái giá trị của người tu là ở chỗ đó. Hiểu cho thật sâu thấy cho thật rõ, chúng ta mới thấy trách nhiệm của người tu không phải thường. Ai mà lơ lửng, tu cầm chừng, tu cho có tu, để cho qua ngày tháng, thật là uổng một đời hy sinh cho cái không đáng hy sinh.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 173: Chỉ nhìn lại chính mình

Phật dạy: Học đạo là phải biết tôn trọng chân lý. Chân lý không có một mặt hay một góc mà toàn diện. Nếu nhìn đơn thuần một mặt, chấp ít thì hai người cãi nhau, chấp nhiều thì tạo bè nhóm tranh nhau, chấp nhiều nữa thì cả nhân loại bắn giết tàn sát nhau. Người tu Phật là người phải thấy được lẽ thật, phải có cái nhìn bao quát, phải xét lại tâm mình mỗi khi gặp chướng ngại đễ bớt sanh ra phiền não và đau khổ.

Đa số Phật tử bây giờ nhìn mình ít mà nhìn người thì nhiều, phải không ? Người ta làm quấy, làm ác, khi chết họ đoạ địa ngục, chớ đâu phải mình đoạ địa ngục. Can dự gì mình đâu mà cứ lo nhìn người ta hoài. Nhìn người dễ sanh ra bệnh chê trách phê phán. Phải biết rằng những gì mình làm, mình chịu trách nhiệm và cố gắng chuyển đổi cái xấu thành tốt, đó mới thành công. Còn chuyện của người khác làm, người khác nghĩ thì họ sẽ có quả riêng của họ, mình bận tâm lo chuyện của họ chi cho mất thì giờ, vô ích. Nhưng thường thường chúng ta có bệnh hay dòm ngó chuyện của kẻ khác. Chẳng những dòm ngó mà còn cố tình nghe lỏm chuyện của người ta nữa. Thấy ai nói rù rì, muốn ghé lại nghe coi họ nói cái gì. Nghe rồi liền nghĩ bậy, nói bậy, làm bậy. Thử hỏi làm sao ba nghiệp thanh tịnh được. Ba nghiệp không thanh tịnh thì mong chi được giải thoát.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 174: Chèo thuyền Bát Nhã

Sông mê bể ái là nơi chúng sanh đang chìm đắm, Phật bảo rất đáng thương. Người xuất gia tu hành như chúng ta phải như thế nào? Còn mê còn ái hay thoát khỏi lưới mê ái? Nếu chúng sanh chìm trong sông mê bể ái, thì người tu là kẻ chèo thuyền Bát-nhã cứu vớt họ lên. Bát-nhã là gì? Là trí tuệ. Chúng sanh mê thì chúng ta phải sáng, chúng sanh ái nhiễm thì chúng ta phải giải thoát trần lao. Như vậy mới đúng ý nghĩa vượt khỏi sông mê bể ái. Mình vượt qua rồi mới chèo thuyền Bát-nhã cứu vớt mọi người.

Hiện giờ quý vị đang chèo thuyền Bát-nhã, hay đang cùng đua lội với chúng sanh trong sông mê bể ái? Câu hỏi này mỗi vị nên tự đặt lại cho mình. Chúng ta đang chèo thuyền Bát-nhã cứu vớt người đang chìm trong sông mê bể ái hay chúng ta cũng đang lặn lội trong sông mê bể ái như họ? Nếu đang lặn lội trong sông mê bể ái như mọi người thì thật là một thiệt thòi lớn cho mình. Bởi vì chúng sanh chưa có nguyện xuất trần thoát tục, nên họ lặn lội trong đó đành rồi. Chúng ta đã có nguyện xuất trần thoát tục mà còn lặn lội trong đó thì sao? Người ta có tóc, giả sử gặp ai chèo thuyền trong đó, họ ngóc đầu lên, nắm tóc kéo lên thuyền cũng được. Người trọc đầu rồi, đâu còn tóc mà nắm mà lôi, có trồi lên cũng không ai vớt nổi. Tôi nói như đùa nhưng đó là một sự thực.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 175: Người hạnh phúc

Phật giáo dạy chúng ta lấy đạo đức làm cứu cánh, dù việc làm có lợi cho Đạo, cho đoàn thể mà thương tổn đạo đức, nhất định không làm. Làm tổn thương người mà lợi cho Đạo, nhất định không phải Phật giáo. Dù kẻ ác đến thế nào cũng còn đôi chút lương tri, chúng ta tin tưởng như thế, cố gắng tìm cách cảnh tỉnh họ. Nếu họ thay đổi được tâm niệm xấu ác, thật là một điều may mắn biết mấy. Bằng họ không thay đổi, chúng ta vẫn xem họ là ân nhân của chúng ta. Vì họ đã chịu hy sinh để đưa chúng ta lên nấc thang chót vót của đạo đức.

Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền não trong lòng hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Các phật tử tại gia nên nhớ, nếu trong gia đình chúng ta không xả được cứ giận vợ, giận con, giận anh chị em hoài thì không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người này ăn hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình, gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy thì người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết.

Chỉ khi người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật ý, xem đó như là lỡ lầm của người không gì quan trọng hết, không có gì phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 176: Tinh thần tinh tấn dũng mãnh của người tu

Ngày trước chúng tôi rất bi quan khi nghĩ rằng thời mạt pháp người tu không bao giờ có chứng có đắc, còn thời chánh pháp tu hành mới mong đắc quả. Nhưng sau này khi học sử Phật giáo rồi, chúng tôi mới thấy không hẳn luôn luôn như vậy. Thời chánh pháp, khi đức Phật còn tại thế, vẫn có nhiều Tỳ-kheo thối Bồ-đề tâm vì không quyết chí tu hành. Còn tuy là thời mạt pháp mà nếu chúng ta quyết tử trên đường tu, thì cũng có thể tiến được. Vì thế chánh pháp hay mạt pháp là cốt ở tâm mình, nếu mình quyết chí tu hành thì thời mạt pháp coi như là thời chánh pháp, còn nếu mình không quyết chí tu hành thì ngay trong thời chánh pháp coi như là mạt pháp. Vì vậy chúng ta không nên có mặc cảm là mình đang sanh thời mạt pháp rồi thả trôi cuộc đời tu hành, mỗi ngày hai thời khóa tụng gọi là gieo chút duyên lành với đạo ! Chúng ta không nên bi quan như vậy mà phải nỗ lực tiến tu để có thể chuyển mạt pháp thành chánh pháp.

Tinh thần của người tu là, dù sống trong thời buổi nào, chúng ta cũng phải cố gắng vươn lên, tu hành tinh tấn cho đến ngày công hạnh viên mãn.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

***********

Lời dạy 177: Giữ giới là giữ cho mình

Người thế gian không hiểu nên thường oán trách cha mẹ không có phước nên sanh ra mình khổ, hoặc cha mẹ không có tài nên mình thua sút người ta, mà không biết chính mình thọ nhận quả báo đời trước đã tạo, nên mới sanh vào gia đình tương ưng như thế. Cha mẹ chỉ là phần phụ thôi, gốc ở bản thân chúng ta. Như vậy, thuyết luân hồi nói lên lẽ thực của kiếp người. Đức Phật đã thấy, đã nhớ rõ ràng nên nói ra cho chúng ta biết, chớ không phải do Ngài tự tưởng tượng, nhưng vì chúng sanh nhìn nông cạn quá nên không tin được.

Khi biết rõ kiếp luân hồi như vậy, ai can đảm tạo thêm những nghiệp ác để chịu khổ hơn? Cho nên chúng ta phải tinh tấn làm những điều lành, điều thiện. Nếu không làm cho ai, ít ra ta cũng giữ được phần mình, đừng phạm những giới phải đọa lạc. Đó là tu. Đức Phật thấy rõ sự nguy hiểm của luật nhân quả luân hồi nên chỉ cho mình đường lối tu, chớ không phải áp đặt chúng ta. Khi quy y thọ năm giới, quý thầy hỏi Phật tử “giữ được không”, quý vị giữ được thì nói “dạ được”, nếu giữ chưa được thì làm thinh, chớ đâu có ép. Vì giữ giới là giữ cho mình, không phải giữ cho Phật.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 178: Vô sự và đa sự

Câu 01:

Phật tử hỏi: Kính bạch Hòa Thượng cách khoảng 1 năm, Hòa Thượng là người vô sự, nay lại lo cho Thiền Viện Trúc Lâm thì Hòa Thượng lại mất đi sự buông bỏ mà Hòa Thượng đã nói.Kính mong Hòa Thượng giải thích cho chúng con. _(())_Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật_(())_

Sư đáp: 1 năm về trước tôi nói giao trách nhiệm cho Tăng Ni để làm người vô sự, năm nay tôi lại đa mang xây cất Thiền Viện Trúc Lâm, giảng pháp, nói chuyện với Phật tử là mất vô sự trở thành đa sự phải không? Như vậy tôi có lỗi gì hay là có ý gì cần phải nói cho quý Phật tử hiểu, vì sẽ thấy đoạn trước là hay thì đoạn sau là dở.

Ở đây ý của chúng tôi, những năm về trước tôi giảng dạy ở đây. Nếu tính từ khi bắt đầu giảng dạy tới ngày chúng tôi nghỉ là gót 10 năm hơn, những cái gì tôi biết và thấy tôi đều giảng dạy cho Tăng ni Phật tử nghe hết, rồi chúng tôi cứ giảng đi giảng lại bao nhiêu đó hoài thì nó thừa. quý Phật tử cũng như Tăng Ni sẽ ỷ lại hoặc lại nói như vẻ khinh mạn “Thầy có nhiêu đó nói hoài chứ có gì mới đâu” phải ko? Đó là cái bệnh mà chúng sinh thường mắc phải.

Trong kinh Pháp Hoa Phật có ví dụ ông thầy thuốc, có mặt ở đó có thuốc hay. Con ông bệnh đưa không thèm uống, ỷ lại có ba đó lo gì? Cho nên ba đi xa đợi ba báo tin về ba mất rồi, chừng đó mơi đem thuốc ra uống, nhờ uống vậy mới lành bệnh. Đó là phương tiện ông thầy thuốc tôi cũng bắt chước chút chút ở đó. Bởi vì tôi cứ ở đây giảng hoài quý Phật tử nói “Thầy còn ở đó lo gì, giờ lo làm ăn đã chừng nào rãnh thì chạy đến” cho nên tôi báo tin tôi nghỉ tôi không giảng nữa nhân đó tôi làm vô sự.
Như vậy đối với Phật tử thấy “ à mình ráng học ráng tu để thầy nghỉ không có ai để hỏi” đó là cái nhắc cho quý Phật tử cố gắng.

Rồi đến những chư Tăng chư Ni gần chúng tôi thì “thầy dạy đến đó thầy nghỉ rồi, những gì học được ráng tu, chớ thầy ko dạy nữa” như vậy họ khỏi có khinh lờn khỏi bị tội. Còn tôi thì rảnh rang tôi tu thêm, phương tiện lợi cả 3 cho cả Tôi, Tăng Ni, quý Phật tử.
Khi tôi nghỉ bây giờ được khu đất người ta cho cất Thiền Viện Trúc Lâm, tôi ngày xưa tôi có mơ ước làm sao mình phải khơi dậy Thiền Tông Việt Nam. Bởi vì tôi đọc sử thấy rõ đối với Phật giáo Việt Nam trước đời Lý đời Trần đã có Thiền Tông truyền từ trước thế kỷ thứ 8 mãi đên thế kỷ thứ 12-13-14 rồi mãi đến sau này thế kỷ 18 ngoài Huế còn có Ngài Liễu Quán vẫn ngộ đạo. Thì như vậy Thiền Phật giáo Việt Nam sâu đậm biết ngần nào, từ thế kỷ thứ 3-4 mãi đến thế kỷ thứ 18 là mười mấy thế kỷ mà bây giờ hỏi không ai biết có buồn hay không?
Ở Nhật Bản ngang với đời Trần có phái Nhật Liên Tông ra đời. Ngài Nhật Liên là vị trì Kinh Pháp Hoa chỉ dạy đồ đệ câu “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, số đồ đệ không quá 1000 bây giờ kiểm lại đồ đệ trên 1 triệu, từ đó đến giờ không mất. Rồi đến Thiền Lâm Tế, Thiền Tào Động ở Nhật Bản đến giờ cũng không mất.

Kế đó nữa người tu đạo Phật theo hệ Nguyên Thủy Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan… tu thiền các vị học giả các nước Tây phương họ tìm đến học và nghiên cứu . Còn ở Viêt Nam mình có ai tìm đến học ko? Tại sao đạo Phật Việt Nam có gần 20 thế kỷ mà ko ai thèm học? lỗi tại cái gì?

Lỗi duy nhất là hiện giờ các chùa lấy 2 thời khóa tụng làm cái chuyên môn tu, mà thời khóa tụng phát xuất từ đời nhà Thanh vua Thế Tổ nhà Thanh hiệu Thuận Trị. Ông là người miền bắc Trung Quốc gần Tây Tạng nghiêng về Mật Tông “Đạt Ma Giáo”ông muốn đồng hóa Phật giáo theo Mật. Ông kêu Hòa Thượng Ngọc Lâm là quốc sư soạn 2 thời khóa tụng.

2 thời khóa tụng quý vị vào chùa thấy , nếu đầu hôm Tịnh Độ Tụng Kinh Di Đà. Hôm nào có cầu an cầu siêu thì trước phải tụng Chú Đại Bi rồi tụng Kinh Di Đà, niệm Phật rồi tụng Chú Vãng Sanh. Mở đầu là thần chú, kết thúc cũng thần chú. Khuya thì trì chú Lăng Nghiêm hoặc Đại Bi Thập Chú toàn là thần chú như vậy mình tu theo Mật Tông hồi nào không hay. Mà Mật Tông cũng không được Mật Tông chánh gốc, Mật Tông lai mới khổ, chánh gốc Mật Tông Tây Tạng người ta còn phục. Bây giờ vào chùa hỏi đang tu theo tông phái đường lối nào không hiểu?vậy ai học với mình?mình không hiểu mình tu cái gì mà, đó là cái tôi thấy rất đau lòng.

Thiền Tông có từ khi bắt đầu có Phật Giáo ở Việt Nam cho đến bây giờ tức là trước thế kỷ thứ 3 tới thế kỷ thứ 18 mà quên hết trơn không biết gì. Một nền tảng sâu đậm vậy mà mình bỏ mất, nên tôi rất đau lòng khi biết cái hay của tổ tiên mình bỏ quên. Vì thế tôi nghĩ mình phải tạo 1 thiền viện.

Ở đây chúng tôi tạo thiền viện chúng tôi chưa hài lòng bởi nhiều lý do, vì tạo ở đây nó không đủ pháp lý, lập thì lập vậy thôi xem như cất chùa, không có tinh thần thiền viện. Tôi muốn lập thiền viện có hướng đi hẳn hoi dứt khoát mà cả giáo hội cả chánh quyền đều thừa nhận để chúng tôi làm sống dậy tinh thần thiền học Việt Nam, mà lâu nay trong thiền viện mình lơ lửng giũa chừng, chưa dứt khoát bởi vì chưa đủ điều kiện.

Nên bây giờ được có đất, được phép mở thiền viện thì đó là điều kiện chúng tôi cố gắng làm cho được. Đây là lý tưởng tối hậu, nghĩa là cái mình ấp ủ từ lâu biết cái hay của Tổ Tiên mình mà mình không cơ hội nói. Bây giờ có cơ hội làm cho sống dậy, không làm thì trách nhiệm giao cho ai? Nếu tôi không làm ai thế cho tôi để làm, nếu có người thế tôi chắc tôi làm người vô sự luôn. Không ai thế được buộc lòng tôi phải đa sự vì cái tâm muốn làm sao cho Phật Giáo Việt Nam ngoi đầu lên với các nước Phật Giáo bạn, thấy Việt Nam có cái gì , có gì quý vẫn còn chứ chưa mất, đó là chủ yếu chỗ nhắm của tôi. Bởi không ai thế được bất đắc dĩ tôi phải gánh tôi phải làm người đa sự. Nói vậy quý Phật tử hiểu rồi , thắc mắc này là phải bởi vì ngày xưa tôi nói và bây giờ tôi làm khác nhau.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 179: Tướng lạ khi ngồi thiền

Câu 2:

Phật tử hỏi: Bạch thầy mỗi khi con ngồi thiền có những đốm đen tròn đập vào mặt sau đó tan biến rồi lại tiếp tục. Tại sao như vậy xin thầy cách khắc phục. _(())_Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật_(())_

Sư đáp: Khi ngồi thiền có những đốm đen đập vào mặt mình rồi tan. Điều này tôi cũng thường nhắc các quý Phật tử, tu thiền lúc ngồi tu có những tướng trạng lạ hoặc thấy đốm đen, đốm trắng thấy rồi tan nó không còn hoài, biết nó là ảo ảnh giả tướng, không phải thật. Do khi mình ngồi tu tâm mình hơi dằn ép 1 chút thì phát ra tướng lạ vậy thôi Không khắc phục cũng không sợ sệt gì tự nó mất, không có gì lạ.. Chỉ Biết đúng như thật nó là ảo ảnh là giả tướng không thật rồi sẽ hết.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 180: Hiểu và kiến tánh

Câu 3:

Phật tử hỏi: Kính bạch Hòa Thượng qua kinh sách mình thầm nhận nơi thân 5 uẩn này có Phật tánh, như thế có phải mình đã kiến tánh chưa? Nếu chưa thì phải thế nào để kiến tánh? Cuối xin hòa thượng từ bi chỉ dạy cụ thể để chúng con ứng dụng tu hành. _(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp: Ngài Phong Nguyệt khóc vì ở trong chúng 500 người. Người thông thì nhiều người kiến tánh thì không có.

Thông là thông gì? Kiến tánh là kiến cái gì?

Chỗ này nếu nói mình nương kinh sách mà hiểu ở mình ở trong thân 5 uẩn có Phật tánh không sanh không diệt hiểu như vậy chưa phải là kiến tánh chỉ là thông hiểu thôi.
Kiến tánh là đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng không quên không có mất cái thật đó thì lúc đó mới gọi là kiến tánh. Kiến tánh là phải huân tu. Như quý Phật tử có cái thấy cái biết mà không chấp đó là niết bàn, chấp thì không phải niết bàn. Chừng nào cả năm thấy biết không chấp mới là thứ thiệt, giờ phút này chấp , giờ phút khác không chấp thì chưa phải thứ thiệt, cái nhỏ không chấp cái lớn chấp chưa phải thiệt.

Thiệt hay không thiệt tùy thuộc chỗ mình huân tu sâu dày hay cạn mỏng. Nhiều người nói đạo hay lắm mà gặp chuyện tức nói la nghe om sòm. Kiến tánh là luôn luôn sống được với cái thực đó, thấy rõ như không bao giờ thiếu nó. Cho nên quý đọc trong Chứng Đạo Ca Ngài Huyền Giác có nói, giả sử như vòng lửa quay trên đầu thì định huệ Ngài cũng ko mất, quả là kiến tánh là vậy đó, vậy mới làm chủ được giải thoát sanh tử.
Còn mình biết, nói hiểu biết rồi đó, nhưng biết rồi để đó còn chuyện thế tình vẫn sống như thế tình không thể gọi la kiến tánh được.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 181: Thấy biết trùm khắp

Câu 4:

Phật tử hỏi :Kính bạch thầy ngay thực tại rõ ràng thấy biết hằng tâm hằng tỉnh hằng giác đây rõ ràng chân tâm, mà sao trong kinh nói tâm màu nhiệm và diệu dụng vô cùng, tâm là trùm khắp. Vậy tâm là không nơi vì cách 1 khoảng xa là đã không hay biết rồi thì đâu có màu nhiệm gì mà con thấy chỉ bình thường. Kính mong thầy vì con mà chỉ dạy. _(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp: Ở đây Phật tử này nhận mình có cái tâm rõ ràng hiểu biết ngay trong hiện tại, tâm đó tầm thường quá tại sao trong kinh lại nói là mầu nhiệm diệu dụng. Qúy Phật tử quên cái tâm hay là Phật , trong nhà Phật nói Phật nhân, Phật quả. Cái tâm bình thường hằng ngày thấy biết rõ ràng nếu mà nhận ra sống được với nó là mới sống được với ông Phật nhân khi thuần thuật 5 năm 10 năm…30 năm… không còn những cái phiền não vô minh che lấp thì lúc đó nó mới có đầy đủ diệu dụng tâm đó mới gọi là tâm Phật diệu dụng như trong kinh tôi thường kể nhất là kinh Pháp Hoa mở đầu Là Ngài Văn Thù kết thúc là Ngài Phổ Hiền. Ngài Văn Thù tượng trưng cho căn bản trí tức là ông Phật nhân, Ngài Phổ Hiền là tượng trưng cho sai biệt trí Phật quả. Phật quả mới độ sanh Phật nhân chưa có độ thành ra diệu dụng là ở Phật quả, không phải Phật nhân. Biết có cái nhân rồi đi đến cái quả. Chứ là nhân không biết thì cái quả cũng khó mà có.

Như vậy chúng ta tu biết được cái tâm chân thật của mình hằng giác hằng tỉnh không có mê thì mình biết đó là Phật nhân khi thuần thuật nhiều năm nhiều tháng chừng đó mới có những cái diệu dụng đó là Phật quả. Còn ở đây nghi 1 điểm là cái tâm mình sao ở trong giới hạn cơ thể của mình sao nói là trùm khắp, có thấy biết nào ra ngoài hư không đâu mà nói tâm trùm khắp?

Đó là tại Phật tử này quên tôi hay nói "cái gì có tướng có hình thì cái đó có giới hạn có phạm vi nhất định, còn cái gì ko tướng không hình thì có giới hạn không?” nó không giới hạn thì nó trùm khắp được không? Bởi vì tâm cái biết không tướng mạo không hình dáng thì không tướng không hình nên nói nó trùm khắp. Chớ không phải biết trùm khắp là minh gá lên mây lên núi hay ở đâu nó cũng gá, như vậy không phải. Nhưng thật ra không có nó ai biết là mây, núi, mặt trăng, mặt trời.. ai biết tất cả. Thì như vậy chỗ nào thiếu nó đâu, không trùm là gì? Có cái gì mình thấy mình biết có cái đó thì trùm hết rồi còn gì.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 182: Ngộ

Câu 5:

Phật tử hỏi : Kính bạch thầy

a. Ở hội Linh Sơn khi Đức Phật đưa cành hoa sen Tổ Ca Diếp mĩm cười sau đó được Phật ấn chứng. Còn trong Kinh A Hàm thỉnh thoảng Phật có dạy Tỳ Kheo nào thấy lý nhân duyên sinh là thấy pháp…như vậy cái thấy cái ngộ của Tổ Ca Diếp và cái thấy của Tỳ Kheo thấy được duyên sinh 2 cái khác hay giống nhau?

b. Thỉnh thoảng trong Kinh A Hàm sau khi được nghe Phật thuyết pháp thì có những người chứng đạt được quả Tu Đà Hoàn, A Na Hàm.. như vậy các trường hợp đốn ngộ này có đồng với tinh thần đốn ngộ của Thiền Tông sau này không? _(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

a. Cái thấy cái ngộ của Tổ Ca Diếp và cái thấy của Tỳ Kheo thấy được duyên sinh 2 cái khác khác nhau

Tại sao khác nhau? Ngộ là ngộ được cái Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn Diệu Tâm. Cái đó ở đâu? Là ở nơi mình .

Còn thấy pháp duyên sinh cái đó ở đâu? Ở sự vật bên ngoài thành đó thấy được pháp tánh thấy được lẽ thật của các pháp. Còn ngộ là ngộ được cái thật của con người. 2 cái khác nhau

b. Trong Kinh A Hàm nói có những vị nghe Phật giảng liền chứng được Tu Đà Hoàn ngay tại chỗ ngồi. Đối với các thiền sư có khi trong hội vừa hỏi và được trả lời ngộ liền. 2 cái ngộ chứng đó khác nhau.

Khác như thế nào? Vì ngộ chứng Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn dịch là Thất Lai tức là còn 7 lần trở lại trần gian nữa hoặc là dịch Nhập Lưu là vào dòng thánh. Nghĩa Tu Đà Hoàn là khi mình ngộ được lý đạo ngang đó tu không còn thối chuyển tiến mãi trên con đường đạo đức giác ngộ không có lui xụt gọi đó là Tu Đà Hoàn. Tiến lên đường Thánh đó là Thánh của Tứ Đế hay là thánh tứ quả Thanh Văn. Còn người đốn ngộ không phải ngộ để đủ lòng tin tu rồi chứng quả Thanh Văn, mà ngộ ngay nơi mình có ông Phật tức là Phật nhân nếu mình tu đến chỗ viên mãn sẽ thành Phật quả chớ không qua tứ quả Thanh Văn cho nên 2 cái khác nhau. Cái kia ngộ chứng được Quả Tu Đà Hoàn tiến mãi tu chứng A La Hán, còn đây ngộ mình có Phật nhân tu tiến đến cuối cùng là thành Phật .

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 183: Nho và Phật

Câu 6:

Phật tử hỏi : Kính bạch thầy

Kính xin thầy giảng giải cho con hiểu về ý nghĩa của 2 câu sau đây do Hải Lượng Thiền Sư tức Ngô Thời Nhiệm và Hòa Thượng Hải Ấn đã nói con trích từ quyển “ Trúc Lâm Tông Chỉ Môn Nguyên Thanh” trang 135

a. Khổng Tử là chủ của tính mạng, Phật Thích Ca là khách của tính mạng. Đó là lời ông Ngô Thời Nhiệm

b. Khổng Tử và Thích Ca là chủ và khách của tính mạng cho nên cái đạo dạy người nhất trí với nhau . ( Ngô Thời Nhiệm)

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Ngô Thời Nhiệm có lần ông cũng xưng là con cháu Thiền Phái Trúc Lâm cho nên ông làm quyển sách “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh” nhưng trước hết tôi xin nói rõ đọc tiểu sử hay nghiên cứu về tinh thần ông Ngô Thời Nhiệm ông nặng Nho hơn Phật, chủ yếu ông cũng muốn dung hợp Nho, Phật 1 nhà hay là tam giáo đồng nguyên Nho , Phật và Lão cùng 1 nhà. Ở đây ông dùng chữ “Khổng Tử là chủ của tính mạng Phật Thích Ca là khách của tính mạng” mà tính mạng ở đây theo quan niệm của ông là cái mọi người, mọi nơi ở trong nước phải sống, phải theo bởi vì thấy rằng nhà Nho là phương pháp dạy dân để có trật tự, nếp sống đàng hoàng thích ứng với thời đại. Còn nhà Phật dạy người tu được cái lý cao siêu gỉai thoát sinh tử cũng liên hệ đến kiếp con người. Đó là ý thứ nhất mà theo cái nhìn của ông bởi vậy ông nói “Khổng Tử là chủ của tính mạng Phật Thích Ca là khách của tính mạng” bên đây là gốc dạy dân, bên kia là ngọn dạy dân bởi vì bên kia giải thoát dạy dân xa quá ko có gần, còn bên đây thực tế gần hơn.

Ý thứ 2 Khổng Tử nhắm vào tinh thần giáo dục tâm ý của người dân sống phải đúng với cái nghĩa quân tư phụ, nghĩa là từ xã hội cho đến gia đình đều phải có trật tự trên dưới như vậy thì đó là tính mạng. Còn Phật dạy thì không như vậy nghĩa là dạy cho mình Tam Quy Ngũ Giới và cách xử sự chứ không tôn quân , hơi phụ thôi không giống hệt bên kia nó thiếu phần chủ yếu.

Còn ở dưới đoạn sau “Khổng tử và Thích Ca là chủ và khách của tính mạng cho nên cái đạo dạy người nhất trí với nhau” kết thúc đạo dạy người của ông. Ông lấy cái cớ để đưa đến chỗ sử dụng trong cuộc sống dạy dân thành ra chủ khách hòa nhau đều có lợi đó là tốt, không phải riêng tư, thật ra ông không nói sâu về tâm tánh của con người, mà ông muốn nói sinh mệnh của 1 nước của 1 tập thể nhiều hơn.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 184: Gan dạ tiến tu

Câu 7:

Phật tử hỏi : Kính bạch Thầy trước kia con không thấy được nhân quả sau thời gian tu tập con đã thấy được nhân quả con loại trừ tâm hữu con xài tâm vô , gần đây con khám phá ra được con có thanh kiếm trí tuệ, con rất mừng vì đã thấy được nhân quả nhưng vẫn còn lặn hụp trong đó chưa thoát ra được vì kinh tế hoàn cảnh sức khỏe, nên muốn thoát mà thoát không nổi miệng vẫn còn ăn mặn hoài. Mong Hòa Thượng từ bi tiếp ánh sáng cho con để con nhận làm điểm tựa cố vương lên giữ cuôc đời lắm đau thương.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Su đáp:

Phật tử này rất là hiền lành thật thà thấy sao nói vậy, hồi chưa tu chưa hiểu nhân quả, tu rồi hiểu nhân quả dùng tâm vô trừ tâm hữu, biết mình có trí tuệ.

Tôi cũng giảng rõ quý Phật tử nắm rõ hơn. Tâm hữu là tâm thấy có mình thật, có tốt có xấu đều thật.. tất cả những cái hữu đó gọi là tâm hữu. Còn tâm vô là thấy theo Bát Nhã nghĩa là tất cả pháp duyên hợp không thật cho nên được kiếm trí tuệ thì đó mừng, tốt , đó là bước tiến thứ 1.

Nhưng đến đoạn thứ 2 vì thấy được nhân quả nhưng vẫn còn lặn hụp trong đó chưa thoát ra được. Lý do kinh tế hoàn cảnh sức khỏe…thấy thì thấy mà cứ vẫn ăn mặn hoài. Thì cái điều này là đa số mắc phải chứ không phải 1 người nào. Đạo thấy hay muốn tiến lắm mà động tới là thiếu ăn thiếu mặc, hoàn cảnh gia đình, bịnh hoạn..tiến không nổi.

Điều này tôi xin góp ý với quý Phật tử, ai cũng ở trong hoàn cảnh kinh tế chật vật hết, chứ không phải cũng sung túc không phải riêng ai. Hoàn cảnh gia đình người nữ thì chồng con, người nam thì vợ con, xã hội, thế gian này nói ra không có người nào không bệnh đâu? Người nào cũng có bệnh ít, bệnh nhiều..Như vậy tại sao người ta tu được mình tu không được? Phải tìm ra lý do đó . Tại sao người ta cũng trong hoàn cảnh kinh tế chật vật, gia đình, cũng bệnh nhưng vẫn tu được? Mình tu không được là cái lỗi gì? Đó là cái chúng ta phải truy nguyên, tìm ra thì tu được chứ không có gì hết . Thì quý vị truy nguyên ra chưa? Chưa, là có gì lạ?

1. Thiếu gan dạ. Nghe bệnh không dám ăn chay, nên ăn mặn hoài. Sợ nghèo kinh tế chật vật cho nên không rảnh tu, lo làm. Như vậy thì sợ kinh tế thiếu là cái yếu cho nên rồi tu ko được vì sợ đau ko dám ăn chay tu ko được.

2. Là còn chấp ngã to. Bởi thấy mình là thật là quý cho nên sợ mình nghèo, sợ bịnh rồi chết, sợ mất cái ngã, sợ cái ngã khổ cho nên không dám tu. Bây giờ gan lên 1 chút thấy cái ngã không ra gì, thì tu được chứ có gì đâu, phải không? Đó là cái lẽ quý Phật tử hiểu cố gắng vương lên chứ không phải ai hơn mình đâu, ai cũng có hoàn cảnh na ná vậy.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 185: Ảo tưởng khi tu thiền

Câu 8:

Tăng hỏi : Bạch sư ông xin sư ông chỉ dạy cho con để con học thêm:

1. Khi con ngồi thiền con cảm nhận 1 luồng hơi nóng phát ra từ sau 2 mang tai?

2. Lỗ tai con thỉnh thoảng hay nghe tiếng không không chừng đôi 3 phút, bạch sư ông có phải chăng con sắp phát khùng?

3. Luồng quả hầu đi như thế nào?

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Thật ra khi mình ngồi tu có những cảm giác trong những sách Thiền thường dạy. Có khi cảm giác lạnh, nóng hoặc phát xuất 2 bên mang tai hoặc phát xuất từ dưới xương cùng theo lằn xương sống chẳng hạn. Những cái đó là những tướng do công phu ngồi tu phát hiện, có cảm giác bất thường như vậy, mà những tướng đó là không thiệt. Nếu không quan tâm, không chú ý thì lâu dần nó tan thôi. Còn nếu mình sợ, mừng đều là gốc của bệnh.

2. Lỗ tai nghe tiếng không không đôi 3 phút có sắp khùng không? Thì điều này nếu nghe những tiếng nói ở bên lỗ tai trong khi mình tọa thiền, ai chú ý lắng nghe những tiếng đó chấp đó là Phật nói pháp, chấp đó là Bồ Tát nói pháp cho mình nghe. Chấp như vậy thì 1 ngày khác sẽ điên.

Bởi vì những tiếng đó nói lên thần kinh mình hơi yếu cho nên mới nghe được những tiếng đó, chấp đó riết mình đi tới đi lui đứng nói lảm nhảm. Bởi nghe lỗ tai nói chuyễn rồi mình nói lảm nhảm thành điên hồi nào không hay. Chính hồi xưa tôi có 1 người bạn đồng tu đang đi với mình thì họ nói "Đó đó tôi nghe họ nói vậy đó…" tôi khuyên mấy lần nhưng không được rốt cuộc vị đó điên. Điên vì tại chấp tiếng nghe như người ta nói pháp cho mình nghe, bởi vì có nhiều người nghĩ rằng trong giấc mộng hay trong khi mình tu có Phật có Bồ Tát đến nói pháp cho mình nghe là quý là cao siêu, rồi lắng nghe riết rồi nói chuyện lảm nhảm với mấy người đó, thiên hạ trước mặt mình thấy mình lảm nhảm là biết mình thành điên mất rồi.

Như vậy thành điên hồi nào không hay, tưởng đâu mình tỉnh rõ ràng mình đã điên. Vì vậy cho nên dè dặt đừng theo mấy tiếng bên ngoài.

3. Còn tu hành mà nói quả hầu gì đó. Cái đó là tu của ngoại đạo chứ không phải tu theo Thiền Tông .

Thiền tông thì không có nghĩ đến đường quả hầu đi ở đâu hết. Chỉ là yên lặng vọng tưởng của mình tâm tỉnh sáng là đúng, còn nghĩ đến những chuyện kia là sai.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 186: Đừng chấp hai bên

Câu 9:

Phật tử hỏi: Kính bạch thầy trong kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy Ngài A Nan cách mở gút nói rằng : 6 gút mở hết thì 1 cũng không còn. Tại sao Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi sang Trung Hoa với nhiệm vụ phá kiến chấp đối đãi 2 bên của chúng sanh. Tại sao còn quải 1 chiếc giày như vậy Ngài vẫn còn mang 1 cái, còn 1 là còn lại đối với 2. Xin thầy từ bi chỉ dạy để khai thông chỗ này cho con.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Ở trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy mình mở 6 gút, nảy giờ tôi dạy Qúy Phật tử mở 6 gút chưa? Dạy chỗ nào? Thấy nghe mà chấp, thấy biết mà chấp .. thấy, nghe ,gửi ,nếm, xúc chạm.. mình chấp thì đó là gút, còn không là sao? Là mở 6 gút rồi.

Bởi vậy kinh Lăng Nghiêm nói 6 căn là gốc của luân hồi sanh tử, 6 căn cũng là nhân giải thoát luân hồi. Thì như vậy nó là chỗ làm cho mình đi trong luân hồi sanh tử chính nó cũng giải thoát sanh tử chứ không ở đâu xa hết. Vì vậy hổi nảy tôi nói đại khái không hết 6 gút, kinh Lăng Nghiêm nói rõ 6 gút.

Kinh Lăng Nghiêm nói 6 gút mở thì 1 cũng không còn. Tại sao hình ảnh Tổ Bồ Đề Đạt Ma Ngài 1 đôi dép mà không quải hết, mà quải 1 chiếc như vậy là không còn chấp 2 bên, nhưng còn 1 chiếc là còn 1 cái tức là đối với 2. Thì câu nói đó rất rõ, hay.

Nhưng thế này Tổ muốn dùng hình tướng để nói lên cái ý chí lý tưởng của mình, chớ không phải Tổ dạy cho mình cái chỗ hoàn toàn cứu kính như lời Phật đã dạy ở trong kinh. Tổ muốn cho tất cả thấy rằng chúng ta đau khổ vì chấp 2 bên, nếu dứt chấp 2 bên thì không còn đau khổ nữa. Cho nên tượng trưng quải 1 chiếc dép chớ chưa phải nói chỗ cứu kính hết 2 cũng không còn 1. Là phương tiện chỉ chúng ta chấp 2 bên là còn khổ, không chấp 2 bên là hết khổ.

Tôi nói ví dụ như hiện giờ nếu Qúy Phật tử thấy người ta khen là quý, là mừng là vui. Khi bị người ta chê thì sao? Buồn khổ. Mừng vui khi được khen thì sẽ buồn khổ khi bị chê. Trong thế gian này mọi người trong chúng ta được thiên hạ khen hết không? Nếu người nào hơi giống giống như mình, gần mình thì khen mình. Ngược lại thì chê mình phải không?

Mấy chú uống rượu thì khen mấy chú uống rượu giỏi, uống rượu nhiều phải không? Mấy chú ăn trộm thì khen mấy người ăn trộm hay lấy tiền người ta được nhiều. Còn mấy người tu , người nào tu dở khen người tu hay. Thì như vậy mấy chú uống rượu không bao giờ khen ông thầy tu, có khen không? Nếu mình được những bạn đồng tu khen mình vui, gặp những người không đồng tu họ chê thì sao? Buồn.

Bây giờ nếu bạn đồng tu mình khen thì mình cũng thấy đó là khích lệ mình, tu thôi chớ có gì đâu, thôi ráng tu không có mừng. Còn nếu người không đồng tu mình chê thì mình nói đó là thử thách coi mình tu thiệt hay tu giả. Nếu tu giả nóng giận, tu thiệt mình không giận, bây giờ mình tu thiệt đừng giận ai hết.

Phật tử chịu tu thiệt không? Mình tu ai khen thì chịu, ai chê thì giận. Gỉa sử bữa nào ăn chay bị láng giềng người ta nói “ giả bộ ăn chay, miệng ăn chay trong bụng không ăn chay” nói vậy cái giận liền phải không? Muốn phá người ta, người ta tu muốn phá. Mà họ có phá đâu, họ thử mình tu thiệt hay tu giả, tu thiệt thì họ nói thì họ nói, mình thiệt mình biết. Nhưng Phật tử cứ chịu giả không chịu thiệt, muốn cho ai cũng khen hết. Nhiều khi người ta khen cho mình vừa lòng thì cũng vui nữa. Bởi vậy cho nên còn vui là còn khổ, mà còn vui, khổ thì trên thế gian này chắc không bao giờ hết khổ phải không? Bởi vì đâu ai khen mình hoàn toàn 100 người khen nhiều lắm 40-50 người, còn 50-60 người kia chê thì sao? Thì khổ nhiều. Bởi vậy đừng có màng cái khen chê mà sống với cái tâm an như thanh tịnh thì người đó là người hết khổ , cho nên mới nói buông được 2 bên là hết khổ.

Đó là sự thật, còn thí sụ thứ 2 nữa là nghĩ tới cái nghèo cái giàu. Thấy người ta giàu mình nghèo khổ không? Bởi mình nghĩ giàu nghĩ nghèo cho nên ai cũng muốn giàu mà không chịu nghèo, mà lỡ nghèo thì than thân trách phận đủ thứ hết. Bây giờ mình đừng thấy cái giàu nghèo, lo làm ngày 2 bữa cơm viu vẻ sống đạo đức gọi là “ An Bần Lạc Đạo” đó.

Thì như vậy có khổ không? Đâu có khổ ,nghĩa là mình chấp nhận mình không phải lười biếng, không trốn trách nhiệm mà làm hết sức mình được bao nhiêu sống bấy nhiêu không than không trách. Có tiền nhìu ăn ngon tiền ít ăn dở cũng sống thôi, người ta có thịt có cá, mình không có ăn rau muống nước tương cũng sống vậy phải không? Mà tâm mình an thì không có buồn, không khổ… thì đau có bệnh hoạn. Như vậy mình không chấp giàu chấp nghèo cũng hết khổ. Tóm lại cái gì còn thấy 2 bên là còn khổ.

Nếu thấy đẹp thấy xấu khổ không? Giả sử mình được cái phước là đẹp rồi thấy hãnh diện, mai mốt mình già suy yếu mình xấu lại, qua trận bệnh già gầy còm. Chấp cái đẹp trước mình vui thì cái xấu sau mình khổ. Còn nếu không đủ phước mình xấu , người khác đẹp hơn mình thì sao? Thì thôi khổ dài dài, khổ không có ngày ra, thì như vậy càng chấp đẹp chấp xấu càng khổ. Cho nên không chấp 2 bên là hết khổ.

Đó là ý nghĩa mà ở đây tôi nói chư Tổ muốn cho mình đừng dính 2 bên, không dính 2 bên là hết khổ. Đó là 1 lẽ thật, mà lẽ thật đó chưa nói đến chỗ tột cùng cứu kính của Phật muốn dạy. Muốn nói giai đoạn đầu mình thoát được 2 bên thì mình sẽ hết khổ, ra khỏi vòng trần lụy này.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 187: Tinh thần giải thoát

Câu 10:

Phật tử hỏi: Con có điều khuất mắt kính xin Hòa Thượng giảng giải cho con được rõ. Những người ngoại đạo họ giống với đạo của họ nhưng họ luôn hướng về chân lý và luôn sống với chân lý với những người đó họ mất thì có được giải thoát không? Kính xin Hòa Thượng hướng dẫn.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp: Câu hỏi không rõ lắm, nhưng tôi tạm nói cái ý cho quý vị thấy “có những ngoại đạo họ tin và trung thành với đạo họ, nhưng lúc nào cũng hướng về chân lý khi chết họ có được giải thoát không?”

Thì điều này không sáng sủa lắm tôi sẽ nói đại khái cho quý Phật tử hiểu. Người theo 1 tôn giáo nào đó và trung thành với đạo đó. Nếu mà họ ứng dụng những điều dạy trong tôn giáo đó mà hợp với chân lý đúng với tinh thần giải thoát họ trung thành và làm theo họ được giải thoát. Còn nếu những lời dạy của tôn giáo đó không đúng với tinh thần giải thoát và họ làm theo thì nhất định không giải thoát.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 188: Biết vọng không theo

Câu 11

Phật tử hỏi: Kính bạch thầy mong thầy vì chúng con mà chỉ bày để tâm chúng con không rơi vào sự hoang mang trong công phu. Bạch thầy trong khi thầy dạy biết vọng thì buông, vậy khi không có vọng thì tâm là sự tự nhiên. Tự nhiên đó là tâm tánh nhưng tại sao trong khi ngủ lại không rõ biết, đã gọi là tánh thì không tăng không giảm. Mong thầy vì chúng con giải bày.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Nói rằng biết vọng thì buông, khi buông thì tâm lại tự nhiên. Thí cái điều này Phật tử chưa nắm vững cái hướng tôi nói. Tôi nói biết vọng buông và mình không theo vọng, khi buông vọng rồi, vọng không khởi thì lúc đó sao? Lúc đó nói tự nhiên mà sự thật lúc đó buông vọng khởi nữa thì mình biết lúc này không có vọng.

Khi dấy lên mình thấy mình buông, khi không dấy lên thì biết không có vọng. Mà vọng dấy biết có vọng buông, vọng lặng biết không vọng thì có tự nhiên hay là hằng biết. Cho nên tôi thường ví dụ tôi nói: Tôi đang ngồi ở trong thất, thì có 1 số Phật tử vô hỏi đạo lý, Phật tử tới tôi biết có Phật tử tới. Hỏi đạo lý xong Phật tử xá lui ra hết thì lúc đó tôi biết Phật tử ra hết. Thì biết có Phật tử hỏi đạo biết Phật tử ra hết là ai biết? là chủ nhà biết, thì bây giờ có vọng lên biết không theo, buông nó thì biết lúc này không có vọng, tự nhiên sao được. Chủ nhà sờ sờ đó mà quên thì như vậy đâu có gì mà tự nhiên.

Ở đây lại hỏi tự nhiên đó là tâm tánh, cái đó không phải là tự nhiên mà là hằng biết, mà hằng biết mà sao khi ngủ lại không biết. Khi ngủ phải đóng cửa, bởi đóng cửa biết mà biết 1 cách mờ mờ ví dụ như ở trong nhà mình đốt ngọn đèn mà khi cửa đóng rồi ở ngoài thấy không? Không thấy, nhưng mở hé cửa là thấy, thấy trong nhà sáng. Như vậy quý Phật tử thấy khi mình ngủ 6 căn đóng cho nên mình không biết, nói không biết nhưng 1 cái động mình đang ngủ mà người nào hơi nhạy nhạ người khác mở đèn là giật mình. Như nếu không có cái đó thường xuyên ở mắt thì làm sao người ta mở đèn mà mình giật mình, người ta kêu mình giật mình, gõ vào tay chân mình giật mình. Thì nó có mà nó yếu vì 6 cửa đóng chớ không phải là không vì vậy cho nên nó không có tướng nên không tăng không giảm.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 189: Thân người

Câu 12

Phật tử hỏi: Kính bạch thầy xin thầy thương xót dạy rõ 2 ý nghĩa sau

1. Trong kinh Pháp Cú Phật dạy “làm được thân người khó như rùa mù tìm bọng cây” trong kinh Lăng Nghiêm con lại nghe thầy giảng thân cha mẹ sinh ra này như hạt bụi trong hư không như hòn bọt trong biển cả. Vậy là như thế nào? kính xin thầy giảng rõ cho chúng con.

2. Kính bạch thầy khi con ngồi tụng kinh hoặc ngồi tọa thiền thì con hơi lặng nghe sự yên lặng lặng lẻ của hư không. Vậy có sai không?

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Trong kinh Pháp Cú Phật dạy thân này khó được như rùa mù tìm bọng cây, nghĩa là rùa mù không phải đi tìm được liền liền mà 100 năm mới trồi đầu lên 1 lần, khi đó trên mặt biển cái bọng cây đương theo sóng gió mà trôi dạt. Thì như vậy chừng nào rùa mù tìm được bọng cây? Khó vô kể, cũng vậy đứng về mặt thân này, người học đạo phải hiểu cho thật kỹ nó không quý mà cũng rất quý. Mọi lần tôi có dùng thí dụ: giả như chúng ta đi ra biển bất thần bị sống bão, chúng ta bị chìm thuyền bất chợt vớ được gốc cây mục. Trong khi mình đang chơi vơi ngoài biển cả gốc cây mục đối với mình quý hay không quý? Ai cũng biết gốc cây mục thì không quý nhưng lúc mình đang chơi vơi rất quý. Nhờ đeo gốc cây mục đó sẽ đươc người ta cứu vớt mình hoặc đeo theo gốc cây mục đó mà sóng gió sẽ tạt vào bờ. Thì gốc cây mục trong khi đang chơi vơi thì rất là quý, khi mình đến bờ thì sao? Có ai vác lên vai đem về cho bà con thấy không? Như vậy nó quý ở chặng nào? Và không quý ở chặng nào?

Nó quý ở chặng mà mình cần tu đó mình còn đương mê lầm mới tỉnh, mới biết đạo rồi thân này hoại đi thì đâu kịp cho nên lúc đó phải quý. Quý để mượn thân này làm phương tiện tu hành bởi vậy Phật cấm Phật tử không được tự tử là vậy đó. Vì được thân này là quý mình chưa tu tới đâu mà tự tử thì uổng, trở lịa được thân này đâu phải là dễ, cho nên rất là quý.

Nhưng khi mình đạt đạo rồi thì thân này còn quý nữa không? Thì ở đây trong kinh Linh Nghiêm mà quý thầy giảng nói thân này như hòn bọt như hạt bụi trong hư không đó là tại ngộ đạo rồi thành ra thấy nó không ra gì. Đó là 2 trường hợp thân rất quý trong khi còn mê vừa và tỉnh tu thì nó là quý. Nó hết quý khi ngộ rồi thấy nó là hư dối tạm bợ không còn qúy nữa.

2. Phật tử này hỏi rằng khi tọa thiền lắng nghe sự yên lặng lặng lẻ của hư không thì cái này sai tuốt rồi. Hư không có động đâu mà lắng nghe, phải không? Lắng nghe cái động của hư không là không trúng, bởi vì hư không là hư không nó không có động. Động là âm thanh động.

Mình ngồi thiền là dùng cái trí để nhìn lại niệm khởi thì không theo còn niệm không khởi thì yên lặng thì đúng. Đây là chinh phục ngay nơi nội tâm của mình, còn không thì mượn hơi thở để nương và quên nghĩ. Thì đó là những phương tiện, chớ còn để lắng nghe hư không thì không được, hư không là không âm thanh mà nghe cái gì?

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 190: Phân biệt mà không phải ý

Câu 13

Phật tử hỏi:

1. Thưa thầy nếu niệm khởi là sanh diệt nhưng sao Ngài Huyền Giác lại nói có phân biệt nhưng không phải ý? Hoặc cũng biết vui buồn nhưng đừng để nọc độc vui buồn thấm vào chân tâm như vây có mâu thuẫn không? Xin thầy từ bi giảng cho chúng con được rõ.

2. Thưa thầy tại sao lại nói biết vọng đừng theo đã đầy đủ giới định tuệ tự tánh. Xin thầy từ bi giảng cho chúng con được rõ.

3. Trong kinh “6 Cửa Vào Động Thiếu Thất” có nói “Đừng bắt Phật đi tìm Phật “ chúng con chưa được rõ xin thầy từ bi giảng cho chúng con hiểu.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Niệm khởi là sanh diệt nhưng sao Ngài Huyền Giác lại nói có phân biệt nhưng không phải ý? Vị này đã hiểu lầm cái phân biệt của ý và cái phân biệt không phải ý. Cái phân biệt của ý là phân biệt tốt xấu, hơn thua, phải quấy…thì phân biệt đó là ý. Còn cái phân biệt không phải ý như tôi thường ví dụ có tấm gương soi mọi người, như quý Phật tử nhìn lên đây cái tay tôi là tấm gương, quý vị sẽ thấy hình bóng của quý vị. Mà hình bóng quý vị trong gương là 1 khối hỗn độn hay là cái nào ra cái nấy? Hình người nào ra người đó, bóng người nào ra người nấy.

Như vậy bóng người nào ra người nấy đó là phân biệt hay không phân biệt? Phân biệt không? Mà phải ý không? Gương nó có động đâu. Như vậy thì cũng thấy rõ trắng đen mà không phải phân biệt chớ không phải lúc đó không biết gì hay lúc đó là khối hỗn độn, cho nên Ngài Huyền Giác nói phân biệt mà không phải ý là chỗ đó đó.

2. Tại sao lại nói biết vọng đừng theo đã đầy đủ giới định tuệ tự tánh. Xin thầy từ bi giảng cho chúng con được rõ. Nếu đầy đủ giới định tuệ tự tánh như Đức Lục Tổ thì khỏi cần biết vọng đừng theo, còn bây giờ giới định tuệ chỉ là ở ngoài miệng thì thôi đừng theo vọng giùm tôi.

3. “6 Cửa Vào Động Thiếu Thất” có nói “Đừng bắt Phật đi tìm Phật” chúng con chưa được rõ xin thầy từ bi giảng cho chúng con hiểu.

“Đừng bắt Phật đi tìm Phật” là thế này chúng ta lâu nay có cái niệm nghĩ rằng Phật ở thế giới cực lạc, thế giới này thế giới kia.. cho nên mình mong mỏi gặp Phật. Nhưng với tinh thần của “6 Cửa Vào Động Thiếu Thất” hay là nói của Tổ Đạt Ma thì nói “tức tâm tức Phật” nhân tâm mình đã là Phật thì phải xoay lại đó nhận ra nơi đó chứ đừng đem tâm đi tìm Phật, tâm mình đã là Phật rồi mà tìm Phật ở ngoài nữa tức là bắt Phật đi tìm Phật. Mà phải xoay lại phải nhận rõ tự tâm mình “tức tâm tức Phật” thì đủ rồi chớ đừng đi tìm ở ngoài.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 191: Gương Tổ

Câu 14

Phật tử hỏi:

Trong quyển “Pháp Bảo Đàn Kinh” của thầy Mãn Giác ở Hoa Kỳ có nêu 2 việc làm.

1. Đức Lục Tổ là người Việt Nam.

2. Chính Ngài Thần Hội đã sáng tác 28 vị Tổ Tây Trúc

Con kính xin thầy từ mẫn chỉ bày cho con 2 ý này.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Tôi không có nói thầy Mãn Giác nói trúng nói trật gì hết. Mà tôi chỉ nói rằng Đức Lục Tổ là người Việt Nam hay là người Trung Hoa không quan trọng. Mà quan trọng chúng ta có tu được đúng như lời Lục Tổ dạy hay không. Nếu Lục Tổ dạy chúng ta tu được như Ngài thì cái đó là cái xứng đáng còn ngồi đó cãi Ngài là người Việt Nam hay người Trung Quốc mà không chịu tu thì không có lợi gì. Trọng tâm của tôi là phải tu được những lời Ngài dạy thì mới quý giá, cãi hoài lấy đâu bằng chứng cãi hoài mệt phải không?

2. Ngài Thần Hội đã sáng tác 28 vị Tổ Tây Trúc? Câu hỏi này mang tính cách lịch sử , tôi nghiên cứu đã thấy rõ cái lối nói này là lối nói lệ thuộc của 1 vài học giả sau này. Sự thật chúng tôi đọc ở trong quyển “Đại Chỉ Quán” của Ngài Thiên Thai Trí Gỉa đại sư, Ngài sanh đời Tùy trước Lục Tổ. Lúc đó Tổ Bồ Đề Đạt Ma chưa sang nữa, ngài đời Trần đến đời Tùy trong quyển “Đại Bát Nhã” là “Đại Chỉ Quán” gọi là “Ma Ha Chỉ Quán” về phẩm thứ nhất đã có kể 26 vị Tổ Ấn Độ, quý vị nào chịu khó đọc quyển đó sẽ thấy. Trước đó đã có 26 vị thì tới khi Tổ Đạt Ma nói 28 vị là hợp lý 100% tại sao nói Ngài Thần Hội sao này tạo ra? Đó là lối nói chưa có nghiên cứu kĩ.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 192: Tử vi bói toán

Câu 15

Phật tử hỏi:

Người tu theo Phật nên nghĩ thế nào về bói toán, tử vi, địa lý ?

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Câu hỏi này trúng bịnh với hiện tại rất nhìu. Nếu Phật tử tin sâu lý nhân quả thì đối về vấn đề bói toán địa lý có quan hệ không? Nếu mình tin tử vi bói toán địa lý thì tin sâu nhân quả chưa? Nhân quả là cội nguồn khổ đau hay an vui, nếu mình tạo cái nhân xấu đó là cái nhân để đưa đến khổ đau, mình tạo nhân tốt là nhân đưa đến an lạc. Nếu tin sâu điều đó mỗi ngày nhìn lại mình có tạo nhân xấu hay không để mình chừa, tránh còn biết cái nào tốt mình cố gắng mình tạo làm thì bao nhiêu đó quá đủ rồi. Còn cái bói toán tử vi địa lý chỉ là phần phụ bên ngoài giả sử trúng cũng chỉ là trò chơi thôi à, quý vị nhớ mấy ông thầy bói hay mấy người đoán tử vi cũng vậy. Tôi hồi xưa cũng có quen 1 ít người họ coi tay coi tướng, họ nói coi tay coi tướng cũng trúng lắm nhưng mà với điều kiện là cái người đó khi thấy có cái tướng hay hiện ra trong chỉ tay lành hay dữ thì họ nói nhưng nếu từ ngày cho đến ngày kia mà không xảy ra chuyện gì bất thường thì nó trúng, còn xảy ra bất thường thì trật. Ví dụ từ ngày cái tay hiện ra 3 năm sau hay 6 tháng sau có điều lành, thì đoán ông hay bà sẽ gặp những điều tốt, nhưng từ đây đến đó mình phải làm điều tốt thì đến đó tốt nếu mình làm điều xấu thì không có tốt nữa.

Ví dụ từ đây đến đó mà giết người thì cái tốt đó còn nữa không? Thì như vậy cái tốt hay cái xấu nó sẽ hiện đúng khi mình không làm cái gì nó quá mạnh quá nặng, còn mình làm cái gì mạnh nặng thì nó đổi. thì như vậy nó đổi theo cái gì? Theo cái nhân, nếu làm nhân ác thì cái tốt biến thành xấu, còn nếu làm thiện thì nhân xấu sẽ thành tốt. Thì như vậy tin nhân quả hay bói toán cái nào nên tin hơn, vậy mà rồi Phật tự cứ băn khoăn cứ coi năm tới khá ko? Hay lo hay nghĩ đến năm tới năm trên là tại mình có cái tham muốn năm sau giàu hơn năm này, muốn dọa dẫm năm tới phát tài hay không? Chứ mình cứ nghĩ cái nhân mình tốt thì quả sẽ tốt cứ sống làm điều tốt thôi, rồi cái quả sẽ tới khỏi cần coi bói gì hết.

Cho nên cái bói toán tử vi địa lý nó chỉ là phần phụ, không có đáng mà cái chủ yếu là nhân quả. Vì vậy người Phật tử chân chánh tin nhân quả rồi thì mấy cái kia là trò chơi khỏi tốn tiền vô ích. Còn người nào mà cứ đi tìm bói toán hoài thì biết đó không phải, không tin nhân quả, mà không tin nhân quả thì xứng đáng là Phật tử chưa? Sao vị quý nói yếu quá, không dám nói mạnh. Nếu Phật tử chân chính thì tin sâu nhân quả, mà tin sâu nhân quả thì mấy cái đó là trò chơi không đáng khỏi tốn tiền vố ích. Thay vì coi tử vi tốn 10.000 ngàn đồng, đem 10.000 ngàn đồng giúp cho người bệnh có phước hơn . Làm nhân lành thì có quả lành, còn hơn đi coi tử vi có biết gì đâu, còn nếu có biết mà nói phân 2 vậy đó ờ từ đây đến ngày kia nếu bà hay ông không làm gì tội ác thì chừng đó được quả tốt, còn nếu làm ác thì nó đổi. Thì thôi để mình lo tu sướng hơn, đi coi chi tốn tiền mắc công lo. Bởi vậy nhiều Phật tử chân chính không nên để phí thì giờ, tiền của trong những việc nó không có chân thật.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 193: Tin sâu nhân quả

Câu 16

Phật tử hỏi: kính bạch Hòa Thượng con là 1 Phật tử mới vào đạo, kính xin Hòa Thượng giải đáp cho con những thắc mắc sau

1. Con thường nghe nói “nhất nhân cử đạo cửu huyền thăng” câu này có đúng với Phật pháp không? Vì theo con hiểu “ai ăn người ấy no”.

2. Trước khi ngồi thiền có nên hay không nên trì chú? Nếu trì chú thì trì những chú nào và trì mỗi chú bao nhiêu lần? Ngoài ra nếu trì chú tay bắt ấn theo chú đó hay không? Hay chỉ chắp tay niệm Phật thường thôi.

3. Trong “Tử Thư Tây Tạng” và nhiều sách Phật khác con thấy có nói phải để ít nhất 8 giờ sau khi chết mới lên thay đồ tắm rửa. Nếu không người chết vẫn còn bị đau đớn và họ sẽ phát sanh về cảnh giới xấu, điều này có đúng không? Và nếu không đúng thì để người chết khoảng bao lâu mới được đụng tới? Sau đó nên hay không nên coi giờ tẩm liệm và chôn cất.

4. Việc phá địa ngục như trong 1 số kinh sách và ngoài đời thường xảy ra hằng năm ở vùng núi Thị Vải với sự tham dự hàng mấy trăm Tăng Ni việc này có đúng với chánh pháp không? Vì con hiểu Phật có tái sanh cũng không cứu đươc nghiệp của chúng sanh, làm sao có việc dám phá địa ngục với thiết tâm mong cầu chánh pháp con cuối xin Hòa Thượng chỉ dạy giùm con những thắc mắc trên.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Một người thành đạo cửu quyền thăng thì có trái với nhân quả “ ai ăn nấy no” không? Nó không có trái tí nào hết đó.

Tại sao vậy? Bấy giờ tôi nói cho quý Phật tử thấy tôi chưa thành đạo mà bà con tôi cũng thăng bộn rồi. Bởi vì mình một lần tu là có những người thân thuộc phát tâm theo, rồi mình tu đến khi thành Phật thì bà con mình thành Bồ Tát thành A La Hán thiếu gì. Thì thăng thôi chứ có gì đâu lo chỉ là mình chưa chịu thành đạo, không phải mình thành đạo mọi người đó cũng bỗng thành theo. Nhờ mình đi tu thân quyến mình phát tâm tu theo, nhờ vậy 1 đời mình tu có 5- 10 người bà con tu theo, đời tu thứ 2 có 20-30 người tu theo đến khi mình thành Phật rồi bà con mình cũng thành Phật thiếu gì. Cho nên 1 người thành đạo thì nhiều người thăng, đừng hiểu theo nghĩa 1 người tu rồi tất cả được đi theo về cực lạc hết, không có nghĩa ăn theo như vậy.

2. Trước khi ngồi thiền có nên hay không nên trì chú? Nếu trì chú thì trì những chú nào và trì mỗi chú bao nhiêu lần? Ngoài ra nếu trì chú tay bắt ấn theo chú đó hay không? Hay chỉ chắp tay niệm Phật thường thôi.

Điều này tôi xin thưa rõ ngồi thiền thì không trì chú, mà trì chú thì không phải ngồi thiền. Trì chú là tu theo Mật Tông mà ngồi thiền là tu theo Thiền Tông, mà lâu nay chúng ta có cái lỗi cứ sợ ngồi thiền không trì chú thì ma đến phá ngồi không thiền không được, điều này thật là hiểu lầm.

Tôi hỏi quý Phật tử khi đọc lịch sử Đức Phật lúc Ngài đến cội Bồ Đề ngồi Ngài trì chú gì? Có trì không? Không có nghe Ngài trì gì hết, rồi khi ma tới thì Ngài lấy gì để dẹp ma? Ngài làm sao dẹp? Chăng qua Ngài giác ngộ rồi Ngài thấy bọn ma nó tới giả hình này hình kia phá Ngài nói “Bọn giả dối..đi đi..” Người tu thiền cốt là định tâm, trong kinh phật thường nói Phật dùng cung thiền định, kiếm trí tuệ mà phá quân ma chớ không có thần chú nào hết đó. Như mình bây giờ yếu cứ sợ nghe nhát ma sợ quá muốn trì chú trước để ngừa, thì do mình không hiểu rõ.

Ngồi thiền là định tâm, định tâm thì ma đâu có phá được. ngồi thiền nghĩ bậy nghị bạ mới phá chớ. Như vậy thì khỏi cần trì chú và không nói chú nào.

3. Trong “Tử Thư Tây Tạng” và nhiều sách Phật khác con thấy có nói phải để ít nhất 8 giờ sau khi chết mới lên thay đồ tắm rửa….

Lau chùi thì làm cho cái thân đau thì điều này tôi chưa có kinh nghiệm kỹ nhưng mà theo tôi kết luận của câu hỏi này nói trước 8 tiếng mà mình đi chôn cất người đó sẽ đọa khổ thì điều đó không đúng. Thật ra quý Phật tử chắc cũng dư biết người chết sau khi cả cơ thể lạnh rồi thì lúc đó hết cảm giác, cảm giác khi lúc còn ấm và lạnh rồi thì cảm giác đâu còn. Không còn cảm giác thì sao biết đau? Cái gì biết đau? Và nếu nói tinh thần đã ra khỏi xác rồi thì sao tinh thần đau được? Lau cái xác làm sao tinh thần đau?

Bao nhiêu đó có thể thấy khi cơ thể lạnh hết cả rồi mình có thể liệm được, còn ấm thì khoang. Chỉ nói vậy thôi chứ đừng nói giờ, có nhiều người rất nhiều giờ mà họ không lạnh, có người vài 3 tiếng là họ lạnh hết rồi. Cái đó tùy theo cơ thể của mỗi người, khi đã lạnh hết rồi thì mình không còn gì phải sợ nữa đồng thời nếu nói rằng mình chôn cất trước rồi sẽ đi đường ác hay đọa đường dữ điều đó không đúng. Đi đường ác đọa đường dữ là khi nghiệp ác nghiệp dữ người ta có, chứ người đó làm ngập việc thiện mà chỉ vì lau chùi đau chút rồi sân đọa đường dữ không hợp lý không đúng tinh thần nhân quả của đạo Phật.

4. Việc phá địa ngục câu này thì hơi đụng chạm quá tôi cũng không muốn nói nhưng tôi chỉ nói hơi khơi khơi tí thôi. Tôi nói rằng trong nhà Phật tất cả những kinh điển từ kinh điển Nguyên Thủy như 4 bộ A Hàm tới kinh điển Đại Thừa tôi đọc không thấy có chỗ nào nói chuyện phá địa ngục. Nếu có thì chắc sau này bày ra làm cho Phật tử an lòng thôi chớ không phải trong kinh dạy , nhiêu đây đủ rồi nói nhiều mích lòng.

Nói thật với quý Phật tử nhiều khi tôi có cái buồn là Phật tử đi tới chùa cúng mà nhất là mùa Vu Lan nhờ quý thầy cầu nguyện cho thân nhân được siêu sanh về cõi Phật thì quý thầy rãnh tụng chứ quý thầy cũng không biết tụng được đi về bển chưa nữa. Bởi vì mình tụng thì cứ tụng cầu thì cứ cầu chớ mình không có dẫn đi, mình còn ngồi đây chớ có biết đi được hay không? Thành ra chuyện đó cũng là chuyện làm cầu may đó là tôi nói thiệt vậy, tỷ dụ bây giờ tôi đi Trung Quốc quý Phật tử đi Trung Quốc tôi dẫn đi thì tôi biết tôi dẫn đi tới đâu tới đâu tôi biết, còn tôi ở đây đưa người ta đi về bên kia thiệt là tôi chưa biết mà chưa biết làm thì là việc cầu may chớ không phải là bảo đảm nhớ như vậy. Còn cái bảo đảm nhất là quý Phật tử tu bỏ được nghiệp ác bảo đảm sẽ bớt khổ điều đó tôi bào đảm còn cầu nguyện về cực lạc tôi chưa dám bảo đảm, thật thà là như vậy. Huống nữa phá địa ngục đứng trên này mà phá ở đâu thì tôi cũng không dám tin điều đó.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 194: Chấp và không chấp

Câu 17

Phật tử hỏi:

Cách đây khoảng 5 năm con tu thiền bị điên mấy lần ngày nay con đã thấy rõ cái sai quá lớn của chính mình. Nên con tin rằng từ nay về sau con sẽ không điên nữa, sau đây con xin trình bày sự tu của con để Hòa Thượng xét cái nào sai cái nào đúng và chỉ dạy thêm cho con.

1. Hằng ngày con theo dõi 8 tâm con sáng trưa chiều tối, đi đứng nằm ngồi mỗi niệm dấy lên con điều biết cũng có lúc khít khao cũng co khi thưa hở. Thưa Hòa Thượng trí con nghĩ khít khao là do có mặt của tâm trong từng ý niệm thưa hở là sự vắng mặt của tâm trong từng ý niệm.

2. Tâm còn chấp là đứng trong vòng nhân quả, tâm hết chấp là vượt ra ngoài vòng nhân quả, con ví tâm con chấp như con cá bị bắt đem nướng trên lò nên còn phiền não, tâm hết chấp ví như con cá được bơi lội tự do nên không phiền não.

3. Gần đây con không theo dõi tâm nữa mà trí con chỉ nghĩ đến những người sống chung quanh con là nằm còn nằm trong vòng nhân quả họ là người mù không thấy đường đi nên đụng lung tung. Con ví con như 1 kẻ thấy đường phải cố gắng bay ra khỏi vòng nhân quả để thông cảm cho họ mà đừng trách họ nếu họ lỡ đụng mình. Trí của con dừng lại ở điểm này và không thêm 1 điều gì khác. Kính thưa Hòa Thượng lối tu như vậy có đúng với chánh pháp hay không?

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật tử này thật thà ngày xưa có gì sai thì cũng nói cái sai của mình ra hết. Bây giờ có mấy điều:

1. Tâm từ sáng trưa chiều tối đi đứng nằm ngồi mỗi niệm dấy lên điều biết, có khi thì khít khao có khi thì thưa hở, thì nghĩ sự thưa hở là sự vắng mặt của tâm trong từng ý niệm. Quan niệm như vậy dường như là trúng mà chưa có trúng hẳn.

Tâm của mình nó dấy lên mình biết, khi nó nó thưa hở thì vắng mặt của tâm câu này không đúng. Nếu muốn đừng lầm thì phải dùng chữ “vọng tưởng” với chữ “tâm” thì dễ hiểu hơn, tuy nhiên vọng tưởng là biết chứ không phải không biết, đã biết là tâm nhưng cái tâm đó hư vọng. Còn cái biết hư vọng là nó không có vọng tưởng cho nên tạm gọi là tâm. Thì như vậy nếu là tâm niệm vọng tưởng dấy mình biết không theo, khi vọng tưởng không có thì lúc đó tâm cũng vẫn hiện tiền, lúc vọng tưởng có tâm vẫn hiện tiền, nếu không hiện tiền làm sao biết có vọng tưởng phải không? Như vậy tâm không có vắng lúc nào, mà vắng hay có là do vọng tưởng dấy hay không dấy, vọng tưởng dấy thì thấy như có, vọng tưởng không dấy thấy như không. Chớ thực tâm thấy vọng tưởng thì cái đó hằng hữu, ở đây nói rằng sự vắng mặt của tâm là trật chứ không trúng.

2. Tâm còn chấp là đứng trong vòng nhân quả, tâm hết chấp là vượt ra ngoài vòng nhân quả. Câu này có thể trúng mà cũng có thể trật.

Có thể trúng là khi nào hoàn toàn dứt hết phiền não mọi vọng chấp không còn. Hết vọng chấp tức là hết si mê, hết si mê mới hết luôn hồi. Còn si mê là còn vô minh, còn vô minh là còn luân hồi. Nói rằng tâm không chấp là vượt ra ngoài vòng nhân quả luân hồi , nói đến cái lớn đó. Chớ còn cái nhỏ chấp, còn thấy cái có mình là còn chấp, chấp là chấp ngã tức là còn vô minh, vậy câu này không có đúng hẳn.

3. Câu này e lỗi lầm nhiều nói rằng mình không chấp mình ra khỏi vòng nhân quả còn thấy người khác chấp còn trong vòng nhân quả, mình thương họ. Tốt đó, nhưng mà chắc gì mình đã ra khỏi thiệt mà nghĩ mình ra khỏi thiệt e lầm. Mình không chấp thì bớt khổ thì đúng, chớ đừng nghĩ mình không chấp là đã ra khỏi vòng nhân quả. Quý Phật tử cẩn thận điều đó, mình bớt chấp một phần là bớt khổ một phần, mình hết chấp là mình hết khổ. Còn nhân quả thì Phật mà cón phải bị nạn “Kim thương mã mạch” đó, đó là nạn, mà mình nói mình ra hết nhân quả thì e vội quá, không đúng với lẽ thật. Vì vậy cho nên Phật tử e dặt một chút đừng nghĩ mình đã ra khỏi nhân quả.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Mặc Vấn

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 195: Hiển và mật

Câu 18

Phật tử hỏi:

Kính bạch Hòa Thượng có những thắc mắc con không giải được .kính xin Hòa Thượng giảng giải cho con được sáng tỏ. Con nghe nói đạo không có hiển mật, nhưng pháp hành lại có hiển mật. Kính xin Hòa Thượng giải thích con được rõ thế nào là hiển thế nào là mật?

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Câu hỏi này cũng là câu hỏi của người cố tu đó, vì nói rằng đạo không có hiển mật nhưng người hành đạo có hiển mật. Thật ra thì chỗ này có nghĩa:

Chữ hiển là bày tỏ, hiện bày ra. Mật là ẩn kín, cái gì mình gọi là ẩn kín thì gọi là lời mật hay là bí mật những cái đó là dấu kín. Phật dạy không có gì là mật hết nhưng mà cái nào Phật dạy mình nghe mình hiểu thì nói là hiển, lời nào nghe không hiểu thì đó là mật. Cũng như mình nghe người ta nói cái gì mình hiểu biết được đó là nói rõ, còn nói nghe không hiểu mình nói bí mật quá, không hiểu. Như vậy cái không hiểu mình cho đó là mật, cái hiểu là cái hiển.

Phật không có nói gì dấu mình nhưng tại mình chưa hiểu, trình độ chưa tới mình không hiểu thì gọi đó là mật. Phật nói đạo, cho nên nói đạo không có hiển không có mật, Phật nói đều muốn cho mình biết tại mình chưa có hiểu tới. Dụ như mình đang học lớp 3, lớp 4 mà có ông giáo sư dạy đại học ổng lại ngồi giảng những toán, những cái hình trên trời trên mây mình nghe không hiểu gì hết, vậy nói ổng hiển hay mật, ờ nói ổng nói không hiểu , bí mật quá. Thì như vậy trình độ chưa tới thì không hiểu thì mình nói đó là mật, chứ còn đạo không có mật không có hiển. Phật nói cốt cho mình hiểu mình tu tức là đều rõ ràng, nhưng khi người thực hành thấy cũng như có mật có hiển đó là khi mình tu những cái đó mình hiểu được, cái hồi xưa cho là mật bây giờ hiểu rồi thì sao? Hiển mất rồi. Thì như vậy nói hiển nói mật là một lối nói chớ sự thật trên đường tu còn thấp cái chưa tới thì gọi là mật, khi lên cao rồi cái mật trước thành hiển mất rồi. Nên không có gì cố định hiển cố định mật.

Còn ở trong nhà Phật có chia ra Mật giáo và Hiển giáo, nói để cho quý Phật tử hiểu rõ. Mật giáo chỉ cho người trì chú, chuyên về Mật tông vì câu chú không giải thich cho mình hiểu cho nên gọi là mật. Còn hiển giáo là kinh, mình học kinh Phật dạy quý thầy giảng rõ cái hiểu gọi đó là Hiển giáo. Chuyện tu cái gì chưa hiểu là mật còn hiểu rồi là hiển hết chơn.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 196: Niệm và vô niệm

Câu 19

Phật tử hỏi:

Kính bạch Hòa Thượng con đọc kinh “Pháp Bảo Đàn” Lục Tổ dạy vô niệm : Vô là không có 2 tướng, không có các tâm trần lao. Niệm là niệm chân như bản tánh.

Còn từ vô niệm của pháp môn Tịnh Độ hình như con hiểu là không còn niệm.

Vậy là cùng một danh từ mà nhà Phật khi dùng khác nhau làm sao giảng trạch cho đúng để người hành một cách phổ thông.

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Vì Lục Tổ giải thích chữ “vô niệm” vô là vô cái gì? Vô là không có 2 tướng, không có các tâm trần lao. Mà 2 tướng lúc nảy tôi có giải thích đó nghĩa là 2 tướng không thiệt nên mình không bị kẹt trên 2 tướng. Không có tâm trần lao tức là tâm phiền não hơn thua, phải quấy…tất cái đó không có thì gọi đó là vô. Còn niệm là niệm chân như bản tánh, chữ niệm này với chữ niệm trên nó khác, mình thường nói niệm khởi là gì? Là 1 ý nghĩ dấy lên gọi là niệm khởi, phàm cái gì có dấy lên thì gọi đó là niệm.

Còn chân như Phật tánh có dấy lên không? Không. Như vậy niệm chân như Phật tánh là niệm sao? Ví dụ nói niệm Phật dấy lên niệm “Nam mô A Di Đà Phật” đó là niệm Phật, bây giờ không còn dấy niệm gọi là vô niệm. Còn bây giờ niệm chân như Phật tánh là niệm sao quý Phật tử biết không? Bởi chữ niệm nó có cái nghĩa là dấy lên mà chữa niệm cũng có nghĩa là nhớ như kỷ niệm những món đồ để mình nhớ, nhớ lại những cái gì đã qua…chữ niệm có nghĩa là nhớ.

Bây giờ mình không có chạy theo 2 tướng, không chạy theo các tâm trần lao phiền não đó gọi là vô. Bây giờ mình hằng nhớ chân như Phật tánh không quên nó thì đó là niệm chân như Phật tánh. Nghĩa là không theo cái kia mà nhớ cái này, cũng như là không chạy theo vọng tưởng mà nhớ đến mình đang tỉnh đang sáng thì đó là niệm chân như Phật tánh là vậy.

Thì như vậy niệm này và với niệm Tịnh Độ nói rằng dấy niệm Phật hay vô niệm thì cái niệm hơi khác chút. Thì 2 bên tùy chỗ ứng dụng tùy chỗ dùng những từ ngữ , chớ còn không cái phổ thông được cho nên mình học chỗ nào phải hiểu cho xác chỗ nấy.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 197: Tu giải thoát bằng cách nào

Câu 20

Phật tử hỏi:

Kính thưa thầy tu giải thoát là tu bằng cách nào?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Tu giải thoát là bằng cách không có nuôi vọng tưởng mà phải cho nó lặng xuống. Vọng tưởng là cái nhân tạo nghiệp, nghiệp không còn thì quả đâu có. Bởi vậy cho nên mọi vọng tưởng chúng ta không theo lặng xuống thì nghiệp hết thì giải thoát sanh tử giản đơn vậy chớ không có gì hết.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 198: Cầu nguyện cho người quá cố

Câu 21

Phật tử hỏi: Kính bạch Hòa Thượng con có những thắc mắc cuối mong Hòa Thượng từ bi dẫn giải cho chúng con được rõ, rất đội ơn thầy.

1. Trong kinh Địa Tạng và kinh Vu Lan, Tự Tứ dạy cúng dường chư Tăng 10 phương thì có thể cứu được cha mẹ ông bà 7 đời được sanh về Nhân Thiên, còn hiện tại cha mẹ được phước lực tiêu khiêng ắt nàng và ghi có chúng sanh sắp mạng chung nếu con thân quyến tu nhân duyên thắng thọ thì các tội ác người mạng chung thảy đều tiêu sạch.

2. Trong kinh Địa Tạng có dạy rằng sau 49 ngày vì người chết mà tu đạo nhiều phước lành thời làm cho người chết khỏi hẳn chốn ác đạo, sanh trong loài người hoặc Trời rất vui sướng và người thân quyến hiện tại cũng được nhiều lợi ích, hơn nữa trong nhà có người bệnh thân quyến vì người bệnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của 1 Đức Phật thấu vào lỗ tai người sắp mạng chung hoặc là ở nơi bổn thức nghe biết thì có thể trừ 5 tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác đều tiêu cả và còn những việc linh nghiệm nhiệm màu khác …v..v..

Kính bạch Hòa Thượng vậy áp dụng câu “ai ăn nấy no, ai tu nấy đắc” thì có phản ảnh lại trong kinh không? Kính nhờ Hòa Thượng giải đáp giùm để chúng con thoát ra được cái vòng lẩn quẩn mê muội đó.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Thì đây là 1 cái nhìn do Phật tử đọc kinh rồi thấy như kinh Vu Lan kinh Địa Tạng trong kinh dạy mình giúp cho người chết hoặc bằng cách tụng kinh, làm phước, mình tu để cầu nguyện thì như vậy sẽ bớt được những cái bịnh khổ. Nhưng về chỗ khác đứng về mặt nhân quả Phật nói “ ai ăn nấy no, ai tu nấy đắc” thì như vậy là sao? Làm sao 2 cái dung hợp với nhau mà không có bị chống trái nhau. Đây là thắc mắc của nhiều Phật tử, thì tôi xin giải thích cho quý Phật tử hiểu rõ cái điều này.
Thật ra kinh Phật lúc nào cũng chỉ dạy cho chúng sinh được nhiều lợi ích, chớ không có kinh nào nói sai đạo lý. Nhưng mà chúng ta học đạo thì phải hiểu cho thật rõ kinh Phật thì có lý có sự, chỗ thì nói rõ lý chỗ thì phân biệt sự. Nếu đứng về mặt lý thì khác, đứng về mặt sự thì nó lại khác, nhưng chỗ quan trọng ở đây Phật tử chúng ta nên hiểu cho rõ ràng nhân quả là cái cội nguồn của Phật pháp, cái đó là cái gốc. Nếu bỏ nhân quả là không có đúng với tinh thần đạo Phật, nói đến nhân quả thì ai làm nấy được chớ mình làm mà người khác được thì không thể. Như vậy trái với ý kinh nói rằng mình cầu nguyện cho thân nhân mình được siêu thoát điều đó chắc không đúng.

Nhưng sự thật nó không phải là không đúng. Bởi vì cầu nguyện có kết quả hay không kết quả tùy theo chỗ , việc làm của người đương sự chớ không phải nói tất cả có kết quả hay không kết quả. Như có người khi cha mẹ mất bản thân người đó tha thiết thành tâm cầu nguyện 1 cách hết sức là khẩn thiết cảm thông được tâm của người cha người mẹ khi còn lãng vãng chưa có vãng sanh, chưa sanh nơi khác thì liền có kết quả, mà kết quả đó không trái với đạo lý nhân quả. Bởi vì sao? Bởi vì tâm niệm của người mất nếu người đó là người hiền thì khi họ gần tắt thở cái niệm tốt còn cho nên thấy những cảnh vui. Nếu người con hay thân nhân thành tâm tha thiết hướng về người mất với tâm thanh tịnh thì có sự cảm thông làm tâm người hiền kia được sáng hơn nữa, làm tăng trưởng snah lên các cõi lành.

Còn nếu trong khi người mất tâm không lương thiện nên bị cái mờ ám, tối tăm cho thấy những cảnh dữ. Trong khi vừa thấy những cảnh dữ lang thang, bỗng dưng được những cái tưởng niệm lành của trong thân nhân hướng về họ có khi họ tĩnh được họ buông được những niệm ác, xấu của họ liền qua được cảnh khổ. Thì như vậy cái niệm đó là co lợi ích còn nếu không được vậy thì không lợi ích.

Quý vị nhớ tâm niệm hay tâm tưởng của con người có sức mạnh phi thường chớ không phải là thường mình hướng vế cái gì thì có thể có cái đó mà người ta gọi là nhân điện, có 1 sức mạnh cảm thông được giữa người mình và 1 người khác. Do đó cho nên khi mình có tâm cầu nguyện thanh tịnh thì có ảnh hưởng tốt, đó là tôi nói trường hợp đặc biệt đó. Còn nếu tâm cầu nguyện một cách sơ sài không tha thiết thì kết quả chắc cũng sơ sài chớ nó không được bao nhiêu đó là chuyện thường.

Bởi vì tâm người kia khi họ hướng về điều ác thì họ khổ, khi sáng lên bỏ điều ác thì họ lại vui thì như vậy là cứu khổ là được vui. Mà cứu khổ được vui đó là từ cái gì? Từ chuyển được cái tâm, chuyển tâm mê thành tâm tỉnh giác thì cái khổ hết cái vui đến, khổ hay vui tùy tâm của mình mê hay tỉnh. Thì đó có trái nhân quả hay không? Đâu có trái phải không. Trước họ mê đương làm nghĩ những điều ác thì khổ bây giờ mình có sức tưởng chánh niệm hướng về họ khiến họ tỉnh thì tự nhiên cái khổ họ hết, hết không phải mình là hết mà chuyển được tâm họ từ mê sang tỉnh, tỉnh thì hết khổ.

Bây giờ tôi nói cách gần gũi cho quý vị thấy, như quý vị đang ở trên thế gian này đang sống như nhau mà có những vị hồi trước chưa hiểu đạo, chưa học đạo cho nên cái gì vui cái gì đến với mình thì mình ôm ấp buồn khổ 5 tháng -10 tháng quên ăn quên ngủ. Rồi bây giờ quý đến chùa nghe quý thầy giảng hiểu đạo thấy cái cố chấp vui buồn đó không có thiệt, không quan trọng thì quý vị bỏ sự vui buồn đó rồi cũng ăn ngủ bình thường khỏe mạnh, không con buồn khổ như trước. Như vậy cái gì làm cho quý vị khổ? Cái gì làm quý vị hết khổ? Do tâm quý vị, tâm đen tối mê chấp thì khổ nhiều, tâm tỉnh sáng thì khổ ít, trong 1 hoàn cảnh mà trước khổ bây giờ bớt khổ.

Thì như vậy ai làm? Chỉ cần có cái hiểu cái nhận đúng rồi chuyển được tâm mình thì bớt khổ. Cũng nghèo như xưa , mà hồi xưa nghèo khổ mà bây giờ nghèo không khổ. Vì sao? Có phải chuyển được cái tâm mà mọi cái khổ theo đó nó chuyển. Hiểu vậy rồi mới biết cái sự cầu nguyện có linh thiêng hay không là do lòng chí thành của mình chuyển được tâm thân nhân mình thì họ bớt khổ còn không chuyển được thì khổ y nguyên. Chớ không phải mình có thần lực màu nhiệm gì tới làm cho họ hết khổ cho nên trong kinh Địa Tạng có dặn người người mất hôn mê mình làm sao niệm Phật cho họ nghe được cảm được nếu họ nghe cảm được họ nhớ Phật thì họ hết mê bớt khổ. Còn nếu họ không nghe được không cảm được thì họ khổ, chớ không phải do mình niệm Phật họ bay hết cái khổ hiểu vậy thì không có gì trái với nhân quả hết.

Như vậy tất cà lời Phật dạy có giá trị thực nhưng quan trọng là ở cái người hành người giúp phải làm sao cho được tận tình chân chánh thì mới có kết quả tốt còn nếu không tậm tình chân chánh thì kết quả không tốt. Đó là cái nghĩa thực như vậy.

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 199: Tụng Kinh thế nào cho đúng

Câu 22

Phật tử hỏi:

Kính Bạch Hòa Thượng con có những thắc mắc cuối mong Hòa Thượng từ bi chỉ dẫn chúng con rất đội ơn Hòa Thượng.

1. Chúng con rất thích kinh Phổ Môn và Địa Tạng nhưng lắm lúc vì bận sinh kế không nhất định được thời gian nên không trì kinh đúng giờ chẳng hạn thời trưa là 9h hoặc 10h khai kinh thì con 10h hoặc 11h mới khai kinh, còn thời chiều 18h hoặc 19h khai kinh thì con 20h hoặc 20h30 mới khai kinh. Như vậy có trái phép không? Co trở ngại cho sự tu tập trì kinh cúng lạy của con không?

2. Trọn bộ Địa Tạng có 3 quyển thượng, trung, hạ nhưng trong ngày con chỉ tụng được 1 quyển rồi Hồi Hướng, Bát Nhã, ngày kế con tụng quyển tiếp cứ tiếp tục cho hết 13 phẩm tức mấy ngày con mới trì hết bộ Địa Tạng mới hoàn kinh như vậy có được không? Và hôm nay con tụng Phổ Môn mai con tụng Địa Tạng có được không? Hay là nửa tháng Phổ Môn nửa tháng Địa Tạng?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật tử này siêng năng tụng kinh, tôi cũng nói đơn sơ cho nhớ. Qúy Phật tử tụng vì sinh kế có thể đối cái giờ, không đúng như mình quy định thì không có lỗi gì hết. Trừ ra mình rảnh rang mà có bữa thì siêng có bữa thì lười lẻ ra đúng giờ đó đi tụng kinh mà nằm lười dây dưa không chịu đi thì đó là có tội, tội là tội lười biếng. Còn nếu vì sinh kế mà phải trễ nãi thì không có sao hết.

Còn tụng thì tùy theo sức khỏe của mình, khỏe tới đâu tụng đến đó 1 quyển cũng được 1 phẩm cũng được chừng nào xong thì Hồi Hướng không có ngại gì hoặc bữa nào xong bao nhiêu hồi hướng bấy nhiêu đều tốt. Nghĩa là hồi hướng là cái tâm rộng rãi của mình hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều đồng được phước chớ không phải ích kỷ cho nên khôn phải đợi xong hết mới hồi hướng.

Còn tụng nửa tháng Phổ Môn nửa tháng Địa Tạng thì cũng được chớ không có sao nhưng mà thôi tụng tháng nào trọn tháng nấy 1 kinh rồi sang tháng khác tiện hơn. Đổi đi đổi lại hoài nhiều khi có Phật tử sợ mình tụng Phổ Môn Bồ Tát Quan Âm chịu mà Bồ Tát Địa Tạng mình bỏ quên buồn phải không? Cho nên chia cho đều, cái đó thì hơi sợ quá đáng.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 200: Vô sự và vô vi

Câu 23

Phật tử hỏi:

Kính xin thầy hoan hỷ giảng giải cho chúng con được rõ:
1. Ngài A Nan tu thế nào mà chỉ 1 đêm là ngộ đạo, Ngài ứng thinh liền ngộ hay còn có pháp nào khác?

2. Thế nào là kinh vô sự? Là pháp vô vi?

3. Thiền Chuyển Luân có phải là kinh vô sự? là pháp vô vi không?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Ngài A Nan tu hành thế nào mà chỉ 1 đêm ngộ đạo, thì quý vị nghe nói 1 đêm. Tức là khi Tổ Ca Diếp triệu tập họp tụng lại lời Phật, chúng ta dùng từ gọi là kiết tập. Người nào chứng A La Hán mới được vào hội vì sợ những người chưa chứng quả có thể lầm lộn làm mất giá trị kinh nên Ngài chọn người chứng được A La Hán mới được vào. Ngài A Nan lúc đó chưa chứng A La Hán cho nên vào không được Ngài buồn và ra ngoài ngồi thiền tới sáng ngộ đạo chứng A La Hán được mời vô kiết tập kinh.

Thì Phật tử này hỏi sao tu có 1 đêm, chỉ 1 đêm mà được ngộ đạo? Tôi nói ví dụ quý Phật tử hiểu như có 1 trái như xoài, bưởi…khi nó có trái cho đến chín, gió thổi rụng. Khi gió thổi rụng thì quý vị có thể hỏi “trái này sao mới thấy trên cây giời chín rụng, mới thấy trên cây đây giờ chín rụng” mới chín mới rụng hay là nó đã có từ mấy tháng rồi? từ trái nhỏ xíu xiu lần lần nó lớn, lớn lớn rồi già đến chín, chín gió thổi rụng, khi gió rụng là nó đã mùi, gió nhẹ là rụng. Thời gian nó rụng là bao lâu? Chỉ 1 tí gió là rơi xuống.

Thì cũng vậy Ngài A Nan đã tu theo Phật 25 năm làm thị giả trong lúc đó Ngài tu nhưng chưa mùi. Ngài thêm 1 đêm nổ lực tí nữa thì rụng chứng quả A La Hán thì cái đó là cái chót thôi chớ không phải ban đầu, Phật tử này hỏi tưởng như cái ban đầu.

Còn nói Ngài ứng thinh liền ngộ hay có pháp gì khác? Nói ứng thinh ngộ là không phải. Mà Ngài thấy được cái gì đó Ngài mới ứng thị dạ từ đó Ngài ngộ, chứ không phải cái ứng thinh là ngộ.

2 + 3. Thế nào là kinh vô sự? Là pháp vô vi? Thiệt ra thì nói kinh vô sự nói pháp vô vi là 1 lối nói. Kinh vô sự là kinh gì? Là tâm kinh. Mà tâm kinh là kinh nào? Bát Nhã phải không? Thường thường nói Bát Nhã Tâm Kinh, thật ra tâm kinh là chỉ cho tất cả lời Phật dạy đều hướng về nội tâm của mình mà tu mà sửa. Cho nên tu là tu ở tự tâm ngộ là cũng là ngộ ở tự tâm, mà tâm mình có chữ không? Tâm mình có lời không? Cho nên nói kinh vô sự là chỉ về tâm, mà tâm nó không phải là chữ cho nên nói là vô sự.

Còn pháp vô vi? Đạo Phật nói phàm cái gì có sanh, trụ, diệt 3 thứ đó hay có chỗ nói sanh, trụ, dị, diệt 4 thứ đó gọi là pháp hữu vi. Hữu vi là cái đó có sinh ra dừng lại 1 thời gian rồi bị hoại đi. Cái nào không sinh không trụ không diệt thì là vô vi. Như vậy để nói thân chúng ta như hồi nảy có nói, thân này có già có chết, tức là sanh, già, bệnh, chết là hữu vi. Còn cái tánh chúng ta có già không? Không già không chết cái đó là vô vi, vô vi là chỉ cho tánh của mình cho nên không phải Chuyển luân xa là vô vi.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 201: Hiểu lầm

Câu 24

Phật tử hỏi:

Kính bạch Hòa Thượng con có đều nghi cuối mong Hòa Thượng từ bi dạy cho con hiểu.

1. Huynh đệ đi chùa mà lâu lâu có 1 -2 cái hiểu lầm nhau như vậy có bị quả báo không?

2. Người tự vận theo như trong kinh nói là “tình tưởng”, vì thất tình tự tử họ càng chìm sâu trong địa ngục , còn người bệnh tâm thần người tự vận như vậy có bị đọa không?

_(())_Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Huynh đệ đi chùa mà lâu lâu có 1 -2 cái hiểu lầm nhau như vậy có bị quả báo không? Hiểu lầm mà mình không có nói lầm, làm lầm thì không có bị quả báo. Tỷ dụ hiểu lầm người đó xấu rồi mình đi nói anh đó, chị đó xấu hoặc mình khinh rẻ mình có những hành động để khinh miệt người đó thì có quả báo. Còn nếu hiểu lầm mà mình không nói không làm gì hết thì không có quả báo. Bởi vì quả báo nó đòi hỏi phải có xuất ra từ miệng ra từ thân chớ còn ở trong này không thì chưa sao. Vì vậy cho nên nếu có hiểu lầm người ta mà chưa nói chưa làm gì đau khổ cho người ta thì không có quả báo. Còn có nói có làm gì cho người ta buồn khổ là có quả báo.

2. Người tự vận theo như trong kinh nói là “tình tưởng” người tự vận mà do thần kinh bất an họ làm lầm làm sai cái đó là tự họ không có bình tỉnh, họ không làm đau khổ cho ai gây họa hại cho ai, cái điều đó tùy theo nghiệp duyên của người đó trong thời gian họ sáng suốt họ làm lành hay dữ. Nếu sáng suốt họ dữ thì chết họ đọa, lúc sáng suốt họ làm lành thì chết khỏi đọa chớ không có nhất định.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 202: Chuyển nghiệp

Câu 25:

Phật tử hỏi:

Chúng con muốn nhờ Hòa Thượng chỉ dạy. Chúng con nghe nói tu là chuyển nghiệp vậy trước kia chúng con chưa tu, có lấy con gà và làm những việc không thiện nay chúng con tu và bỏ không còn nữa. Vậy cái nghiệp ác trước có mất không? Kính mong Hòa Thượng chỉ dạy.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Hồi xưa giết gà giết vịt là tại chưa biết tu bây giờ biết tu ráng chuyển nghiệp như vậy nghiệp cũ còn hay hết? Nhiều Phật tử nói mình tu mà cái cũ vẫn còn nguyên đó rồi chết cái cũ cũng lôi mình đi, tu giờ vô ích quá phải không?

Điều này tôi xin nói cái nghiệp cũ của mình làm mà do mình tu nó chuyển bớt nó sẽ khác đi chớ không còn y nguyên, nếu còn y nguyên thì cái tu không có kết quả. Nó chuyển thế này, như tôi thường thí dụ đó:

Trường hợp thứ 1: hồi xưa mình có hành động hoặc lời nói chạm tự ái 1 người bạn thân làm họ buồn họ giận thì cái đó là nghiệp lành hay nghiệp dữ? Giờ đây mình biết tu rồi, mình hối hận những việc xấu việc dở mình làm cho bạn bè buồn giận, mình ăn năn hối lỗi bằng 2 cách.

Cách 1 trực tiếp với người mình làm giận bùn mình xin lỗi họ. Cách 2 là giàn tiếp cơ hội nào đó mình giúp cho họ được gì thì mình ráng giúp. Như vậy chừng thời gian sau họ thấy lòng tốt mình biết sửa và biết quý trọng họ, vậy họ có bớt giận không? ờ bớt, bớt thì chuyển rồi. Mình trực tiếp chuyển với nghiệp mình đã gây.
Trường hợp 2: ví dụ mình giết con gà con vịt mà no chết mất rồi bây giờ ăn năn hối hận mà nó đi đâu mất rồi làm sao? Thì cái này chuyển bằng cách nào? Nên như thế này như tôi ví dụ rằng

Giả sử như quý Phật tử hồi xưa mình có quyền thế cho nên có những người dưới tay mình, mình khinh bỉ, hành hạ, họ oán hờn mình, thời gian họ đi đâu mất mình không gặp lại. Nhưng đến lúc nào đó họ có cơ hội tốt có thế lực mạnh hơn mình, lúc đó mình thất thế họ sẽ sửa soạn trả thù mình. Như vậy đối với người đó mình không thể tỏ hối hận không tỏ gì được cho họ biết được hết vì cái oán hận họ ôm ấp đi chổ khác rồi, nhưng từ hồi mình biết đạo về sau mình không có làm gì cho người đó được mà ngược lại mình làm được giúp cho những người khác làng giếng, lối xóm mình ăn ở tốt xử sự tốt giúp đỡ, họ thương và mến mình. Thì một ngày kia người oán hờn mình có thế lực họ muốn hại lại mình, vừa hại mình là có bà con láng giềng người ta bênh vực. Thì như vậy giả sử mình phải khổ 10 phần người ta bênh vực mình khổ còn 3-4 phần.

Như hồi xưa mình giết gà giết vịt bây giờ mình ăn năn mình làm lành bố thí thì lần lần chuyển nghiệp, giảm bớt.. chớ không có y nguyên đừng sợ. Chỉ sợ không biết tu mà cứ tạo thêm cái đó mới nguy hiểm.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 203: an tâm

Câu 26

Phật tử hỏi: Kính xin Hòa Thượng giảng cho con được rõ ràng:

1. Chơn pháp, ngã pháp tất cả các pháp đều là Phật pháp. Kính xin Hòa Thượng giải thích cho con rõ được chữ pháp. Vì chữ pháp quá bao gồm nên con chưa hiểu đúng nghĩa.

2. Trong kinh Kim Cang có câu : Tu Bồ Ðề! Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trụ, hành ư bố thí. Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh hương vị xúc pháp bố thí. Bất ưng trụ pháp bố thí nghĩa là gì? Kính xin Hòa Thượng giải giảng cho con được rõ.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Phật tử này hỏi về nghĩa của chữ pháp, tuy rằng nói chơn pháp hay ngã pháp hay nói tất cả đều là Phật pháp nghĩa là sao? Chữ pháp này có 2 phần, phần sự và phần lý.

Phần sự chữ pháp là vật này vật nọ vật kia, cái này cái nọ cái kia, cái gì có tên đều gọi là pháp….cái bàn cũng là 1 pháp, cái tăm cũng là 1 pháp có tên đều là thuộc pháp thì đó là nghĩa phần sự.

Nghĩa phần lý thì chỉ cho cái pháp trùm khắp không có giới hạn cho nên nói tất cả các pháp đều là Phật pháp. Chữ pháp trong kinh Phật có những trường hợp Phật dạy pháp là cái thể trùm khắp cho nên mới dùng chữ là chơn pháp, pháp tánh.

Chữ pháp thể trùm khắp không có giới hạn là về lý, bên chữ pháp kia là sự chỉ cho cái gì có tên đều là pháp.

2. Đây cũng còn thắc mắc chữ pháp như vậy chữ pháp không nên trụ “bất ưng trụ” chữ pháp chỉ cho nghĩa là gì? Quý vị nghe có thể đoán ra chưa? Sự hay lý? Sự vì có tên, nói rằng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp..chữ pháp trong kinh nói là 6 trần. “Pháp” đó thuộc bóng dáng ở trong tâm mình, như khi quý vị khởi nghĩ thì nghĩ cái gì? Nghĩ về người thì bóng người hiện ra, về vật thì bóng vật hiện ra, nghĩ về thành phố thì thành phố hiện ra… cái mà hiện ra theo ý nghĩ của mình gọi là pháp trần.

Pháp trần đó có cái tên người, vật hoặc thành phố… có cái tên vậy pháp đó thuộc về sự. Trong kinh Phật dạy làm sao Bồ Tát đừng có trụ pháp tức là đừng dính với tất cả cái có danh tự hình tướng bên ngoài. Tôi nói gọn hơn chữ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà mình không dính thì mình có tham sân si gì không nè? Như vậy có thành Thánh chưa? Tâm mình có động không? Tâm không động tức là trụ rồi, không trụ mà trụ. Còn nếu trụ vào 6 trần thì trụ chưa? ờ vậy thì dính mắc vào 6 trần thì cái tâm minh loạn. Không trụ nơi 6 trần thì tâm mình đang an trụ, hỏi làm sao an trụ tâm mình thì chỉ cần không dính với 6 trần là trụ rồi.

Bây giờ tôi nói gần, nói 6 trần hơi nhiều chỉ cần 2 trần thôi quý vị đừng trụ giùm tôi

1. Sắc

2. Thanh

Thấy cái gì đẹp xấu đừng có dính, nghe khen chê đừng dính nhiêu đó dễ tu chưa? Nhiêu đó cũng là Thánh con con rồi, dễ quá dễ đơn giản vô cùng. Nghe khen cũng không mừng bị chê cũng không giận bởi vì tiếng đó qua rồi cũng mất chứ có gì đâu. Thấy cái tốt cũng không có đắm mê , cái xấu cũng không ghét thì như vậy cả ngày tâm mình thảnh thơi biết mấy. Tại mình bị khen chê là tâm mình rối, mấy cái đó mình không dính gì hết tâm mình rối không? Tu gần quá, dễ quá đâu có gì huyền bí phải không? Mà hết khổ ngay tức khắc, quý vị thấy có phải hết khổ không?

Giả sử có ai khen mình không mừng, ai chê mình không giận có hết khổ không? Sở dĩ mình buồn bực khổ sở là bị người kia chê người khi dễ rồi đủ thứ. Như vậy thì muốn trụ tâm thì đừng dính với 6 trần tức là đừng trụ nơi pháp, pháp tức là những cái gì có danh có tướng thì đó là tâm an trụ.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 204: Chỉ và quán

Câu 27

Phật tử hỏi:

Kính bạch thầy khi ngồi thiền để dừng bớt vọng tưởng thì con quán sổ tức theo hơi thở ra, vô con còn niệm bài kệ trong kinh Kim Cang “Lục Như”

“Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán”

Xét như vậy để không quên….con hành thiền vậy có được chăng, đúng sai kính xin thầy từ bi chỉ dạy, con đội ơn thầy.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Ngồi thiền sổ tức là đếm hơi thở theo hơi thở ra vô, nhưng vị muốn bổ túc thêm nữa bài kệ :

“Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán”

Xét suy vậy cho không quên. Trong lúc thiền vừa đếm theo hơi thở vừa đọc bài kệ đó đúng hay sai?

Như hồi nảy tôi nói quý vị thấy rõ ngồi thiền là phương tiện nuôi dưỡng tâm mình an trú 1 nơi, khi an trú 1 nơi thì bớt cái sao xuyến. Cho nên thiền chia ra 2 cách: chỉ và quán.

Mình theo hơi thở đếm hơi thở thuộc về chỉ gọi là quán sổ tức, là xem xét thoe hơi thở. Còn nếu mình dùng câu kệ “tất cả pháp hữu vi…” thì đó là quán cái nào cũng thiền hết nhưng mà làm cái này thì xin miễn làm cái kia, làm 2-3 cái rồi mệt mà mệt rồi yếu trở lại như thường cho nên ở đây vì muốn nó mạnh mình dồn nó trong 1 cái thôi, nhiều quá thì nó yếu. Khi nào quán thì quán hẳn khi nào sổ tức thì sổ tức hẳn, mình làm 2 cái thì nó yếu. Quán có lợi trong lúc mình đi, đứng, nằm, ngồi thí dụ như mình vừa thấy 1 cánh gì đó đẹp, thích thì nhớ câu “nhất thiết hữu vi pháp..” thì biết cái này nó có đó cũng như mộng uyển bào ảnh có gì đâu thích, quán như vậy thì có lợi, làm tâm mình không nhiễm không dính. Còn ngồi thiền thì phải nuôi dưỡng nó mạnh, mạnh thì phải cho an ổn 1 chỗ trong 1 vấn đề nhỏ thôi chứ đừng nhiều vấn đế chen vô, hiểu vậy thì quý vị mới ứng dụng đúng.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 205: Không thể vẹn toàn đôi bên

Câu 28

Phật tử hỏi:

Con xin Hòa Thượng giảng cho con hiểu 1 nàng dâu mới về nhà chồng và cũng vừa quy y xong. Nhà chồng có đám giỗ và bảo cô làm gà nếu không làm thì mang tội bất hiếu làm thì phạm tội sát sanh. Vậy làm thế nào không mang tội bất hiếu và không mang tội sát sanh?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Câu hỏi này thường lắm nhưng rất thực tế mà giải quyết dễ hay khó? Tôi có nhớ hồi thưở nhỏ tôi cha mẹ hay dạy khi nào cắt cổ gà thì tụng chú Vãng Sanh cho nó vãng sanh như vậy cắt cổ gà không tội. Nhưng tôi thấy như vậy hơi tàn nhẫn quá vừa tụng chú vừa cắt cổ gà, tụng chú có nghĩa là tu mà còn cắt cổ người ta thiệt không ổn, tàn nhẫn quá. Bây giờ giả sử có ai đó đưa cái dao hay kiếm trước cổ mình cắt cổ và tụng chú để mình vãng sanh mình chịu không? Chắc không bao giờ chịu điều đó mà mình lại đi làm việc đó thấy hơi tàn nhẫn quá.

Thì như vậy muốn tránh tội sát sanh Phật tử này hỏi phải làm sao đây? Nếu từ chối không có cắt thì bị tội bất hiếu cha mẹ chồng còn làm thì phạm tội sát sanh, làm sao cho tròn cả 2 bên? Thiệt ra nếu nói thẳng ở đời không có cái vẹn toàn, muốn vẹn toàn thì thật khó xử. Ở đây tôi giải thích bắng cách chưa vẹn toàn, nếu mà Phật tử này làm con dâu vì hiếu với mẹ chồng mà cắt cổ gà thì khi cắt cổ gà mình cam chịu tội với con gà để tròn chữ hiếu với bên chồng, còn nếu vì mình xem mạng chúng sanh là lớn không nỡ giết sinh mạng chúng sinh dù cho mình kết cũng cam thì mình chịu bất hiếu với cha mẹ chồng, giữ được giới sát sinh. Thì tùy cái nhìn cái nào nặng thì được 1 cái và phải mất 1 cái, phải chấp nhận ví dụ như mình vì mẹ chồng mà làm tròn chữ hiếu thì phải chấp nhận tội sát sanh, còn nếu vì sinh mạng trên chữ hiếu thì mình phải chấp nhận tội bất hiếu. Được phân nửa thôi chớ không thể nào trọn vẹn được.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 206: Thân nam và thân nữ

Câu 29

Phật tử hỏi:

Con nghe quý thầy thường nói được làm thân nam là người đó có phước đức, nhưng tại sao có người sanh vào gia đình nghèo lại xấu xí bệnh tật, hung dữ. Trái lại người nữ thiếu phước tại sao sanh vào gia đình giàu sang, đẹp đẽ, đức hạnh, thuận hòa. Thân nữ nghiệp ái nặng? cuối mong sư ông từ giải cho con biết.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Có một số người rằng làm thân nam là có phước mà quý thầy đó nói 1 cách chủ quan. Nếu gặp mấy cô nói thì không nói vậy đâu, thầy nói là thầy đó chủ quan. Nếu nói được thân nam là phước thì chưa đúng sự thật.

Thân nam thân nữ là nghiệp riêng nữa chớ không phải là cái phước. Là nam mà cũng bị tật nguyền, có người cũng bị bệnh hủi.. rồi đủ thứ, phước chỗ nào? Làm nữ mà làm được nữ thủ tướng vậy có phước không? Như vậy ai lớn hơn ai? Như vậy nói rằng làm nam mà có phước là không đúng chỉ có nghiệp riêng của người đó có chủng tử về phái nam thì được sanh nam, chủng tử phái nữ thì được sanh nữ. Chớ không phải phước hay không phước, bởi vậy cái người nói đạo lý nói vậy là nói trật. Được phước hay không phước là tùy của mỗi người dù thân nam hay nữ có phước thì cũng được sung sướng, giàu sang có địa vị cao, còn nếu vô phước thì cũng khổ sở như ai. Chớ không phải nam là có phước nữ là vô phước đừng hiểu lầm như vậy.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 207: Phương tiện và trực chỉ nhân tâm

Câu 30

Phật tử hỏi:

Cách nhìn giữa chúng sanh, Bồ Tát, và Thiền Sư ví dụ: cùng cây gậy phàm phu cho cậy gậy là thật nên khởi tâm phân biệt tốt xấu.

Nhị thừa cho cây gậy là không, vô thường sẽ mục nát hư hoại.

Duyên giác gọi đó là huyễn hóa do nhân duyên sanh

Bồ tát cho nó là đương thể tức không thấy tột độ lưới nhân duyên, không cần quán sát nữa biết rõ không thực tánh nên nói đương thể không.

Thiền gia thấy cậy gậy là cây gậy, đi chỉ đi ngồi chỉ ngồi không động đến, không bị khái niệm nào chen vào (tức là trực diện đối cảnh không tâm không khởi niệm) xin Hòa Thượng khai thị giữa cái nhìn của Thiền Sư và Bồ Tát. Như vậy thiền sư nhìn có khác với bồ tát nhìn hay không?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Trong cuốn “Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20” tôi có dẫn câu chuyện này cho nên Phật tử này có đọc hơi nghi. Như vậy Thiền Sư nhìn với Bồ Tát nhìn 2 cái nhìn khác ở chỗ nào? Tôi xin nói rõ, trong đây có nêu lên bồ tát thì thấy các pháp đương thể tức không còn thiền gia thấy cây gậy là cây gậy. Sở dĩ khác là thế này , căn cứ trên giáo lý Phật có chia làm ngũ thừa mà thừa cuối là bồ tát thừa. Vì giáo Phật chia từng bậc tu và từng pháp riêng của mỗi bậc. Ví dụ như ngũ giới dành cho người tại gia, Sa Di giới dành cho người xuất gia ban đầu, bồ tát giới…v.v..

Hàng Thanh Văn quán thế nào, Duyên Giác quán thế nào, Bồ Tát quán thế nào đều có pháp tu và pháp quán. Mà có pháp tu và pháp quán tức là còn mượn phương tiện mà nhà thiền có mượn phương tiện không? Nhà thiền thì đa số nhất là Thiền Tông gọi là “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật” không có mượn phương tiện. Mà không mượn phương tiện thì không có dùng pháp quán.

Bởi vì Bồ Tát quán thâm lý Bát Nhã cho nên vừa thấy sự vật biết đương thể tức không nó không có thiệt , thấy rõ khỏi cần suy ngẫm. Còn thiền sư thì không phải vậy, hỏi chớ mình quán các pháp nó không thiệt. Ví dụ tôi nói đương thể tức không rồi quý vị thấy người, vật, âm thanh …cũng biết không thiệt thì quý vị có nhiễm cái gì không? Không nhiễm gì thì tâm quý vị có động không? Thì thấy tất cả các pháp đương thể tức không mà tâm mình cũng bình an “tâm an bất động. Bây giờ thấy cây gậy là cây gậy mà không khởi nghĩ gì hết tâm an không? Tâm cũng an cũng bất động. Nhưng cái kia do dùng giáo lý phật để quán thuần thuật thì tới chỗ đó, bây giờ đi thẳng rằng các niệm khởi điều là bệnh điều là mê cho nên mình không cho chạy theo niệm khởi tâm mình nó như như.

Tâm như như thấy cậy gậy là cậy gậy khỏi cần quán gì hết, với bồ tát thấy đó là cậy gậy biết đó là không. 2 cái khác nhưng mà 2 bên bên này tâm như như bên kia cũng tâm như như, có khác không? Không có khác. Như vậy cái nhìn 1 bên theo giáo lý , 1 bên không theo vọng tưởng, bên kia theo giáo lý quán nên không dính và bên đây không theo vọng tưởng thì có dính không? 2 bên đều không dính như nhau cho nên về mặt tâm như như thì không khác, nhưng đứng về phương tiện thì có khác.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 208: Nho và Phật

Câu 31

Phật tử hỏi:

1. Bạch Hòa thượng xin từ bi giải thích cho con rõ như sau: trong sử có đoạn kể Tôn giả Mục Kiền Liên xuống Địa Ngục để tìm mẹ xin Hòa Thượng cho con biết Tôn giả đã dùng cách gì để xuống Địa Ngục được? Xin đội ơn Hòa Thượng.

2. Tục lệ mở cửa mã cho người chết nhằm vào mục đích gì ? khi người chết đem thiêu có ảnh hưởng gì đến thân trung ấm không?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Nếu trả lời cho đúng sự thật tôi phải nói trả lời sao đây? Thì tôi phải nói hỏi Ngài Mục Kiền Liên, Ngài cách tôi tới hơn 2000 năm lận chỉ hỏi Ngài là biết rõ hơn hết. Nói vậy thì cũn phụ lòng Phật tử thì đây tôi tạm giải thích thêm chút.

Ở trong Kinh nói Ngài Mục Kiền Liên xuống Địa Ngục phải dùng cách nào mà đi, bây giờ cũng căn cứ vào sử chớ không phải căn cứ vào cái thấy của tôi. Trong sử nói rằng Ngài Mục Kiền Liên đã chứng quả A La Hán được đầy đủ lục thông.

Lục thông trong đó có cái Thần Túc Thông muốn lên cõi trời cũng được, muốn xuống Địa Ngục cũng được, chỗ nào muốn đi cũng được, vào nước vào đất cũng được. Bởi vậy cho nên Ngài đi bằng Thần Túc Thông đó là theo sử chớ không phải tôi thấy.

Là Ngài vì được lục thông cho nên vận dụng thần thông mà đến chớ không phải đi bộ như mình.

2. Tuy nó rất là thường nhưng có nhiều người mắc kẹt. Tục lễ mở cửa mã đó là của nhà Nho không phải của nhà Phật nhớ như vậy. Nhưng mà nhà Nho bây giờ không có ai là nhà Nho buộc lòng mấy ông thầy làm thế. Bị hồi xưa có những cái vị người ta học Nho, hiểu Nho rồi theo những tục lệ của Nho, thành ra mấy cái đó đến nhà Nho người ta dạy cách làm như cúng Tam Sên gì gì đó, toàn là nhà Nho không à.

Nhưng giờ rất tiếc Nho tàn rồi mà tục lệ còn nên tối đó không biết mời ai nên chỉ có mấy ông thầy, rồi mấy ông thầy nể tình đi làm dùm vậy thôi chớ không phải chuyện của nhà Phật. Nói cho quý Phật tử hiều rõ đầu đuôi gốc ngọn chớ để nhiều khi thấy nhà chùa đi cúng mà không giải thích được. Thì tại nhà Nho hồi xưa giàu tưởng tượng, người chết rồi còn trở về với gia đình rồi mà mình chôn đó không mở cửa sợ mắc kẹt ở đó về không được. Cho nên phải đến đó là lễ mở cửa mã làm lễ rước về , về ở với con cháu đó là quan niệm của nhà Nho hiểu như vậy thì có gì lạ nữa đâu.

Còn bây giờ nói đem thiêu thì thân trung ấm có ảnh hưởng gì không? Thì tôi xin thưa rằng chôn hay thiêu điều không ảnh hưởng gì hết. Chôn với thiêu là cái xác tứ đại còn trung ấm là tinh thần, lửa không có cháy chôn cũng không mất thành ra nó không có ảnh hưởng gì mà sợ, cái nào tùy duyên hợp thì làm không có gì. Mà nếu có ảnh hưởng thì hồi xưa Phật đâu có dạy phải không? Phật đã thiêu mình giờ còn gì nữa mà sợ.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 209: Nghiệp thức luân hồi

Câu 32

Phật tử hỏi:

1. Kính bạch thầy mong thầy giải thích và phân tích sự khác biệt giữa Giác tánh, Phật tánh và linh hồn, tâm hồn, tâm thức.

2. Học thuyết Phật giáo có phủ nhận linh hồn không?

3. Nếu phủ nhận không có linh hồn thì cái gì đi đầu thai, tái sanh , luân hồi khi thân tứ đại tan rã?

4. Nếu không có linh hồn thí có giác linh không?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Giác tánh và Phật tánh là không có khác nhau, tại sao? Chữ Giác và chữ Phật quý thấy 2 hay 1. Chữ Phật là nói âm tiếng Ấn Độ, ông Bụt đó, nghĩa là Giác. Gọi là Giác tánh hay Phật tánh cũng 1 từ thôi bên nói âm Ấn Độ bên nói âm Trung Quốc, Giác hay là Phật cũng vậy thôi.

Linh hồn, tâm hồn, tâm thức khác nhau không? Thì ở đây nó có khác. Tâm hồn là 1 lối nói thôi ở đây mình có Linh hồn và tâm thức . Linh hồn là từ ngữ xưa nay ở nhà Nho hay thói quen tổ tiên hay dùng, tâm thức chữ thức là trong nhà Phật.

Theo quan niệm ông bà mình xưa nay nói rằng con người có linh hồn. Chữ linh là gì? Là sáng tức là có 1 cái hồn sáng suốt, mà cái linh hồn sáng suốt đó có mất không? Có đổi thay không? Linh hồn sáng suốt mình là mình , A khi thân này hoại thì linh hồn cũng là A mãi mãi là A chớ không thể đổi linh hồn đó thành cái gì được. Bởi đó trong nhà Phật không chấp nhận chữ linh hồn mà nói là thức “ tâm thức”
Linh hồn cũng lá cái biết sáng, tâm thức là biết chữ thức là phân biệt hiểu biết. nhưng chữ thức và chữ linh hồn khác nhau cái điểm linh hồn là cái sáng suốt và không đổi thay còn thức là cái phân biệt đổi thay. Bây giờ quý vị thử kiểm điểm lại mình coi, những hiểu biết minh đổi thay hay là thủy chung duy nhất? hồi nhỏ cái nghĩ hiểu của mình khác, lớn lớn hiểu khác nếu đi học lại hiểu khác, không học hiểu khác, như vậy là luôn luôn đổi thay. Mà nói linh hồn không đổi thay từ nhỏ đến lớn già chỉ 1, linh hồn là 1 không đổi thay thì trúng hay trật?

Thực tế tâm thức của mình nó trăm ngàn thứ mà đổi thay luôn luôn. Nếu linh hồn là cái nguyên vẹn thì nó tốt là tốt trọn vẹn, nó xấu thì xấu trọn vẹn phải không? Vì nó là nguyên mà luôn là 1. Mà nếu linh hồn nguyên vẹn vậy có tu được không? Có cần tu không? Nó là như vậy thì tu cũng là thừa. Đó là cái hiểu sai lầm làm cho người ta không có nghĩ đến cái tu hành chuyển biến tâm niệm của mình.

Còn tâm thức thì nó có nhiều thứ, bởi nhiều thứ nên có cái xấu có cái tốt, có cái hay có cái dở, có những tâm thức ác tâm thức thiện, ngu muội, sáng suốt.. ngay mình có khi mình nghĩ hiền lành như bồ tát, có lúc mình nghĩ hung dữ như cọp như sói. Có cái dữ, cái hiền thì là 1 hay nhiều mà cái tinh thần hiểu biết đó nó đổi thay, gặp duyên biết khéo sửa đổi theo chiều hướng tốt thì lần lần nó tốt, gặp duyên thie chiều hướng xấu thì lần lần nó xấu. Thì như vậy nó là cái vòng chuyển biến, cho nên mình muốn cho nó chuyển biến theo chiều hướng tốt thì phải tu. Như vậy chấp linh hồn là cái sai lầm và đồng thời không cho người ta cái ý niệm tu hành để chuyển biến.

2. Cho nên nhà Phật không chấp nhận linh hồn là vậy. Tức là tôi đã trà lời câu thứ 2 rồi học thuyết Phật giáo có phủ nhận linh hồn không?

3. Cái gì đầu thai? Thì cái đó người ta luôn thắc mắc. Nếu như linh hồn đi đầu thai thì con người ra đời tài và sung sướng hết bởi vì mình có linh là sáng cái hồn sáng suốt, tức là đi đầu thai sẽ vào tốt dại gì chui vào chỗ xấu. Nhưng mà lại có người chỗ khổ người chổ vui sướng, người đẹp người xấu ….

Nếu phủ nhận không có linh hồn thì cái gì đi đầu thai, tái sanh? Bây giờ tôi dẫn trong Kinh để quý vị hiểu thêm, bởi vì ngày xưa Đức Phật tại thế rồi sau này nhiều vị cũng thắc mắc vấn đề này. Thì nhà Phật nói “Nghiệp thức” dẫn đi tái sanh, tại sao vậy? Nghiệp là thói quen, thức là phân biệt. Mình huân tập thói quen hay hoặc dở, nếu huân tập thói quen dở thì nó dẫn mình đi chỗ xấu, huân tập thói quen hay thì nó dẫn mình đi chỗ tốt. Bây giờ tôi nói rất là gần ví dụ như : quý Phật tử thấy ở thế gian có người hồi nhỏ 5 -10 tuổi không có ghiền gì hết, lớn lên họ gần những người uống rượu, họ tập uống rược rồi từ từ ghiền rượu rồi họ muốn đi đâu? ờ vào quán rượu. Như vậy ghiền rược thì phải tìm đến quán rượu. Còn nếu hồi nhỏ không có ghiền gì, gặp nơi bà con lối xóm đánh bài, nó bắt chước đánh bài sau đó thời gian ít lâu nó đến thì nó tìm đến sòng bài.

Còn những người hồi nhỏ cũng không biết biết ghiền gì hết lớn lên gặp những người hiền lành dạy đi chùa lạy Phật làm những điều phước thiện này kia, rồi đi đến noi nào tỉnh nào đó nó thường tìm cái gi? Chùa. Như vậy thói quen nào thì nó dẫn đi chỗ nấy phải không? Dẫn đi theo cái hiểu biết nghiệp của nó.

Như vậy cái huân tập thành cái sức mạnh bởi vậy nói đến chỗ này tôi nói rõ cho quý vị thấy, trong nhà Phật dạy nếu muốn dứt sanh tử thì khi nhắm mắt phải không có 1 niệm. Vì khởi nghĩ là nghĩ theo nghiệp. Khởi nghĩ là nghĩ cái gì? Nghĩ thói quen thích cái gì nghĩ cái nấy, nghĩ cái giận, buồn , thương , ghét nhiều ý niệm trong đó. Cho nên khi mà mình mất bắt mình phải ráng niệm Phật,thì nghĩ Phật để tái sanh trong cõi Phật còn không phải không còn 1 niệm thì đó là tự do giải thoát . Còn nếu chưa được vậy thì ít ra cũng nghĩ điều lành chớ đừng có nghĩ những điều ác do đó những người Phật tử lâm trung ở nhà chùa hoặc là tụng kinh hay niệm Phật để khuyên người đó niệm theo hoặc giải cho người đó hiểu để buông xả hết những cái niệm không có chạy theo. Thì đó mới nghe bài kinh và nhớ lời Phật dạy thì họ cũng có thể tái sanh nơi có Phật pháp còn nếu thường xuyên niệm Phật thì sanh về cõi Phật, nếu tâm mình thanh tịnh thì khỏi bị lôi kéo.

Đó là 1 ý nghĩa nhà Phật nói rất là rõ như vậy chính cái tâm thức hay cái nghiệp thức đó nó dẫn mình đi luân hồi chớ không phải linh hồn. Bởi vậy còn có nghiệp thức thì còn bị luân hồi, còn nếu mà nghiệp mình giải rồi thì hết luân hồi hết sanh tử.

4. Nghiệp thức sạch rồi thì không còn luân hồi nữa. Thì còn gì? Thì hết mê thì đến giác. Chỉ sợ không giác mà mê không à.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 210: Tất cả đều là Bồ Tát

Câu 33

Phật tử hỏi:

Kinh bạch Hòa Thượng :

1. Niết Bàn và Vô Sanh đồng nghĩa hay là 2? Kính mong Hòa Thượng chỉ dạy cho con được rõ

2. Nói rằng kinh luật từ chư Phật Tổ nói ra tại sao trong kinh Pháp Hoa nói Phật phải nhờ Đề Bà Đạt Đa mà Ngài được khai ngộ được Kinh Pháp Hoa?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Niết Bàn và vô sanh là 1 hay 2? là không 2. Vô sanh là không còn tái sinh nghiệp nữa. Niết Bàn là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là vô sanh nghĩa là không còn sanh tử nữa.

2. Nói rằng kinh luật từ chư Phật Tổ nói ra tại sao trong kinh Pháp Hoa nói Phật phải nhờ Đề Bà Đạt Đa mà Ngài được khai ngộ được Kinh Pháp Hoa? Phật tử này hỏi thì có thể hỏi thêm câu nữa: như kinh Kim Cang Phật nói vì kinh này ra đời là mẹ chư Phật.

Ở đây tôi nói cho quý vị dễ hiểu. Qúy vị đọc kinh Pháp Hoa nhớ Đề Bà Đạt Đa là người ân hay người oán của Phật? Bởi vì nếu trong kinh A Hàm thì Đề Bà Đạt Đa là người phá hòa hợp tăng, xuất Phật thân huyết, phạm tội ngũ ngịch.. gọi là tội phải đọa không thể cứu. Nhưng trong kinh Pháp Hoa thì Đức Phật nói Đề Bà Đạt Đa là người ân của Phật, thiện hữu tri thức lớn nhờ đó mà Ngài ngộ đạt được kết quả được kinh Pháp Hoa. Nhường như mà nhờ Đề Bà Đạt Đa là mà Phật đạt đạo, thì chính cái này tôi mới nói kinh Đại thừa có sức mạnh phi thường. Bởi vì chúng ta tu luôn có cái bệnh sợ người ta phá. Đức Phật ngồi dưới cội Bồ Đề thì Ma Vương đến bu lại phá Ngài dùng câu chú nào? Dùng lá bùa nào trị không? Có không? Không có. Trong kinh nói Ngài dùng kiếm trí tuệ, cung thiền định để trị ma vương, định và tuệ. Nên khi nó giả ma nữ quấy rối Ngài, Ngài nói đồ giả dối đi đi ta không.. nó xấu hổ và đi hết. Phật biết nó là đồ giả dối còn mình thấy thiệt nên mình nhầm thì cái đó là trí tuệ. Thành ra mình tu ko chịu trí tuệ thiền định mà thấy bùa thấy chú không thì đó là trái với Phật rồi.

Và ở đây Đức Phật thành đạo không phài vì những ân nhân thí chủ giúp đỡ Ngài mà ngay Đề Bà Đạt Đa là thù Ngài, luôn làm khổ cho Ngài, mà Ngài vương lên được sớm thành đạo thì Ngài được kinh Pháp Hoa do Đề Bà Đạt Đa. Cho nên quý Phật tử có lỡ ở trong gia đình mà không thuận thảo mình tu thì nên nghĩ làm sao? Biết đâu người làm chướng trong gia đình mình là ân nhân số 1 của mình nhờ người đó mình chóng thành đạo, đừng co buồn đừng có hận người đó, người đó là ân nhân số 1 của mình, mình nghĩ vậy quý Phật tử có buồn có giận ai không? Người chọc phá mình là ân nhân mình thì người giúp đỡ mình của là ân nhân mình. Cả thế gian ai cũng là ân nhân mình hết kính trọng và không thù không ai hết thì tu rồi vì vậy có mau thành Phật không? Thì đó nhờ vậy mà Phật nhờ Đề Bà Đạt Đa mà sớm thành đạo, mới được Pháp Hoa. Như vậy nói như Đề Bà Đạt Đa dạy kinh mà không phải, mà là sức tu giác ngộ mạnh của Ngài.

Hiểu vậy rồi thì quý Phật tử giả sử có ai tìm đến nhà trêu phá mình đừng nóng đứng nói là ma quỷ phá.Phật tử hay có bệnh thấy mình tu đàng hoàng mà họ chê chóc phá mình thì nói đó quỷ phá tui đó phải không? Cái đó là cái không tốt. Ai chọc phá mình thì đó là ân nhân đó như vậy nghĩ thế gian này là Bồ Tát hết chơn không có quỷ. Còn thấy người phá mình là quỷ thì thấy thế gian này người xấu quỷ không à chỉ có mình là tốt đó là cái ngã lớn. Từ cái ngã lớn thành cái tu nó sụt. Qúy vị thấy cái trọn tâm tu chưa! Cái tu là cái mình phải can đảm kiên quyết mọi vấn đề trở ngại đều sức đẩy để mình tu lên, chớ không phải trở ngại để mình lui. Vậy thì tất cả đều là ân nhân đều là bồ tát hết, bồ tát lớn bố tát nhỏ. Bồ tát nhỏ thì giúp đỡ mình bố tát lớn thì làm khổ mình, hiểu vậy thì vui vẻ hết không bao giờ buồn phiền ai hết, chính đó là tu. Còn buồn giận người này người kai nói người kia ma người kia quỷ là chưa tu rồi. Quý vị đọc thấy trong kinh Pháp Hoa nói lên tình thần Đại thừa là 1 sức mạnh để mình vương lên không phải trốn tránh cầu xin.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 211: Cúng dường có phước

Câu 34

Phật tử hỏi:

Kính bạch Hòa Thượng xin giải đáp cho con thắc mắc sau:
Con có cúng dường cho 1 thầy sau đó thầy này hoàn tục như vậy con có mắc tội hay không?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật này lo xa, ở trong kinh có bài kinh A hàm có dạy như thế này Phật nói dời mạt pháp sau này có những tỳ kheo hình thức tỳ kheo mà không tu hành, thọ của đàn na thí chủ không chịu tu sau này họ sẽ bị đọa. Một hôm Ngài A Nan ngủ và nằm mộng Ngài thấy có 1 cái hố sâu người dưới đó mặc đồ tu hành , trên cái hố có cây cầu bắc qua có những thiện nam tín nữ đi thong thả trên cây cầu. Ngài thức giấc và đem mộng đến bạch Phật con thấy điềm mộng đó là ý nghĩa gì?

Phật nói sau này đời mạt pháp đệ tử của ta tuy là thọ tỳ kheo hình thức xuất gia nhưng mà không có giữ giới không lo tu hành mà thọ của đàn na thí chủ. Những người thí chủ cúng dường cho họ thì những người đó được phước sanh lên cõi trời là những người đi trên cây cầu, còn những người không chịu tu họ bị đọa đạ ngục đó là những người rớt xuống hố.

Thì như vậy mình có tội gì không? Mình cúng mà họ không tu hành thì họ chịu tội chớ mình không bị tội, mình vẫn có phước như thường à.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 212: Ăn mặn và ăn chay

Câu 35

Phật tử hỏi:

Kính thưa Hòa Thượng xin hoan hỷ giải nghĩa cho Phật tử biết phải làm sao kiêng vào những ngày ăn chay vô tình Phật tử thường thấy thèm đồ mặn, nhẩm tính thấy trùng vào ngày ăn chay mà Phật nói ăn chay là ở trong lòng mình. Nếu ngày đó ăn chay mà lòng thấy thèm đồ mặn thì không tốt nhưng cứ chiều theo lòng mình hoài như vậy thì mình không có sửa mình được. Vậy Phật tử phải làm sao? Cứ việc ăn mặn như mình thích hay là kiềm lòng không ăn mặn để tập sửa tánh dần dần.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật tử này nghi ăn chay phải lòng trong sạch mà tại sao mình ăn chay lại thèm đồ mặn, mà thèm đồ mặn là hết trong sạch rồi. Như vậy thèm đồ mặn cứ ăn mặn, chừng nào hết thèm đồ mặn sẽ ăn chay phải vậy không?

Thật ra con người ta cái gì cũng phải là cái tập, tôi thường nói theo kinh nghiệm ở chùa cho quý vị nghe. Người xuất gia khoảng 20 mấy 30 tuổi mới đi tu vào chùa thì 3 năm đầu mộng thấy toàn là chuyện ở gia đình không à ít có thấy ở chùa lắm mà từ 5 năm về sau thấy ở chùa. Thì như vậy cái tâm của mình từ nhỏ đến lớn quen ăn mặn rồi, bây giờ nói bắt đầu tập ăn chay thì thói quen nghĩ mặn đó nó còn nhiều quá đi thì tự nhiên nó phải chen vô rồi cả đời không ăn chay được ngày nào hết. Bởi vậy tuy nó chen vô thì thôi, lúc đầu mình thanh tịnh được cái miệng còn cái ý thôi khỏi nói mình nhớ chút thôi cũng được, rồi từ từ thuần thục rồi cái ý cũng theo đó mà thanh tịnh luôn, chớ bây giờ mà chiều theo cái ý đó thì thân miệng ý đều không thanh tịnh suốt đời.

Cho nên giai đoạn đầu thì phải cho ý sai lầm nhưng mà tập cái miệng trong sạch chút lần lần chinh phục lâu ngày sẽ quen, quen rồi sẽ được. Chớ đừng nghĩ cố chấp cái gì cũng tại tâm, mà tâm nghĩ mặn ăn chay cũng vô nghĩa, đừng cố chấp cái đó nếu vậy sẽ không bao giờ tu được.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 213: Tục đế và Chơn đế

Câu 36

Phật tử hỏi:

Kính xin Hòa Thượng giải thích câu “Nhị đế dung thông tam muội ấn” nhị đế là thế nào, tam muội là thế nào? Sử dụng tam muội ấn để làm gì?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Nhị đế trong nhà Phật nói là: tục đế và chân đế. Nói đủ là thế tục đế và chân đế. Thế tục đế là chỉ cho những cái lẽ thực mà của thế gian chấp nhận còn chân đế là cái lẽ thực đúng chân lý chỉ có người giác ngộ mới thấy. 2 cái này thường chúng ta hay mắc kẹt đây là thế tục đế kia là chân đế.

Chân và tục nó có 2 cái lãnh vực riêng, nó có 2 giới hạn. Nói gần dễ hiểu ví dụ tôi xuất gia quý đạo hữu tại gia thì tại gia gọi là người thế tục, người xuất gia là người tu hạnh giải thoát. Nhưng mà nếu nói như vậy đó thì nó chỉ có trúng 1 phần nào thôi chớ không phải là chân lý. Nếu quý đạo hữu ở thế tục mà tâm mình hằng ngày sống hết sức là đạo vị hết sức thanh bạch, còn người xuất gia như chúng tôi còn nghĩ chuyện lợi chuyện danh v..v.. thì sao? Ai là giải thoát? Như vậy cái thế tục và cái xuất thế đó 2 cái có thể là khi mình đặt đây thế tục là thế tục suốt kiếp không? Hẳn là xuất thế thì xuất thế thiệt không? Chỉ là ngôn từ bởi vậy cho nên cái người hiểu đạo không có dính 2 bên, như nảy giờ chư tổ thường dạy là không dính cả 2 bên không kẹt bên thế tục cũng không kẹt bên chân đế. 2 bên đều dung hợp nhau thì đó gọi là nhị đế dung thông tam muội ấn. Cái ấn chánh định là 2 đế nó hợp nhau tức là đừng có tách rời cũng như thế tục và xuất thế đều là dung hợp nhau, chứ đừng nhìn thấy mình là khác người kia là khác mà phải dung hợp không có cái chia ra tách ra theo cái quan niệm thông thường. Đó là nói như vậy để giải thích về 2 đế.

Rồi hỏi tam muội ấn là như thế nào? Chữ ấn lá con dấu như mình nói dấu ấn đó, con dấu gì để chỉ cho tam muội mà trong nhà thiền hay gọi là truyền tâm ấn đó. Tức là tâm của ông thầy và tâm đứa đệ tử cái thấy hợp nhau thì gọi là truyền tâm ấn. Ấn là in tức tâm người này và tâm người kia in nhau không có sai biệt cũng như ở trên con dấu, cũng như trên con dấu in xuống giấy chữ trên con dấu và chữ trên giấy có khác nhau hay không? Nó hiện rõ chứ nó không có khác. Vì vậy chữ tam muội ấn là cái ân tam muội tức ấn chánh định muốn được ấn chánh định đó hay mình nói cụ thể muốn đạt được chánh định viên mãn thì đừng còn thấy có 2 đế riêng biệt.

Câu chót Phật tử này hỏi sử dụng tam muội ấn để làm gì? Tôi trả lời sử dụng tam muội ấn để thành Phật.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 214: Kiến Tánh

Câu 37

Phật tử hỏi:

Kính bạch Hòa Thượng trong cuộn băng thầy tuyên bố ngộ đạo ngày 21 tháng 4 chứng minh cái thấy của thầy trùm khắp. Vậy những kinh luận công án thầy đã giảng giải trước đó có cần bổ sung thêm như công án của gia đình Bàng Long Uẩn hay không? Xin Hòa Thượng hoan hỷ giảng giải cho con rõ.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Thì thật ra cái tuyên bố chứng đạo thì không phải mà tôi nói tôi thấy được như vậy, thấy rằng cái chỗ mà ngày xưa mình nhìn cứ thấy ngoài mình có cảnh, cảnh vật ở ngoài mình, mình và cảnh vật là 2. Nhưng thật ra khi tu rồi không thấy nó là 2 nữa. Mình không ngoài cảnh cảnh không ngoài mình thì trùm khắp mà tới chỗ đó chư tổ thường dạy chúng ta phải đi đến đó. Thấy trùm khắp rồi không vướng không mắc nữa chớ còn không mình dễ bị kẹt.

Phật tử hỏi như vậy những công án ngày xưa tôi giảng bây giờ có cần sửa hay không? Thì tôi xin trả lời là không có sửa, bởi vì ngày tôi giảng không phải là tôi không có hiểu, tôi hiểu nhưng mà chưa phải thấy. Cái chỗ này nói quý Phật tử nghe hơi khó hiểu, 2 cái hiểu khác và thấy khác.

Ví dụ bây giờ quý Phật tử nghe người ta diễn tả con cọp có thế này thế kia, nghe diễn tả hiểu con cọp như vậy nhưng mà chưa thấy. Mà mình muốn diển tả cho người khác nghe thì diển tả y như người ta diễn ta cho mình nghe thì cũng đâu có sai, phải không? Nhưng thấy thì mình chưa thấy còn khi thấy con cọp thì nó khác hơn lúc mình nghe diễn tả là chính mắt mình thấy. nghe diễn tả thì mình nghe nhưng đến lúc nhìn thấy là thấy liền. Vì vậy cho nên 2 cái này nó khác nhau khi mình thấy được thì lúc đó không còn nghi nữa, cho nên cái từ trong nhà Thiền nhà Phật dùng quá là hay “kiến tánh” thường người ta nói kiến là thấy, thấy tánh. Mà tánh không hình tướng sao thấy? tức là cái mình nghe trong kinh Phật nói để mình hiểu thì cái đó chưa phải kiến. Mà mình tu tâm mình nó được an lạc an tịnh rồi bỗng dưng mình mới thấy rõ nhận rõ mình là trùm khắp thì chừng đó gọi là thấy, nhận rõ là chính mình nhận ra thì như chính mình thấy. Nơi đó thấy hơn nữa hơn nữa gọi là kiến tánh.
Thường thường 2 cái từ “kiến tánh” “thành Phật” đi đôi tuy đi đôi nhưng cách xa ngàn dặm. Kiến tánh đến thành Phật còn phải trăm ngàn cực khổ nữa không phải đơn giản, chứ đừng nghe kiến tánh thành Phật rồi nghe ai kiến tánh cũng thành Phật rồi, không phải đâu.

Tôi có viết cuốn “Thiền Tông Việt Nam” có bài kệ tôi hay dẫn đó “đốn ngộ tuy đồng Phật – đa sanh tập khí thâm” nghĩa là đốn ngộ dường như mình gần với Phật rồi đó, nhưng mà nhiều đời tập khí còn sâu đậm lắm. Như vậy mình phải hiểu cho thật kỹ chớ nhiều khi mình nghe người nào đó được cái gì ..mình nói rồi..Không phải đâu còn xa lắm xa lơ xa lắc. Bởi vậy tôi nói tuy đến nhà mà còn đổ mồ hôi trán nữa đó.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 215: Phải tự mình thấy

Câu 38

Phật tử hỏi:

1. Xin thầy giải đáp thấy được lý nhân quả đi sâu vào nhân quả có phải là huệ không?

2. Đọc kinh thấy Ngài Huệ Năng được nghe giảng kinh Kim Cang thốt lên rằng “đâu ngờ…” để tử chẳng dám nghi ý Tổ nhưng vẫn còn mờ mịt chỗ nảy xin Hòa Thượng cho vài ví dụ để con được sáng thêm.

3. Đa số người nghĩ khi nào tôi khá giả thì mới có tài vật cho người, có người lại cãi lại chỉ khi nào ta có tâm muốn cho người thì mới có đồ vât để cho người. Kính thầy ý nào đúng?

4. Biết vọng có phải là làm mạnh ý tưởng này để xua đuổi ý tưởng khác hay không?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

1. Quý Phật tử có nhớ trong nhà Phật có nói tam huệ học đó: văn huệ, tư huệ, tu huệ giờ mình thấy được lý nhân quả tức là thấy nghe và hiểu. Rồi ứng dụng lý nhân quả.

2. Cái chuyện đâu ngờ của Lục Tổ chúng ta đọc đến đó tự nhiên mình mờ mịt à. Cái đâu ngờ của Ngài thấy chứ đâu phải mình thấy, Ngài thấy mình không thấy thì mình mờ mịt phải không? Chuyện đó là sự thật.

Cho 1 vài ví dụ để sáng tỏ tôi nói thế này. Như trong nhà có 1 người để món đồ quý ở đâu đó lúc nào đó họ muốn đem món đồ quý ra bán xài, khi tìn họ lại lạc mất tìm không ra. Sau đó họ đi laong quanh tìm bất thần lúc nào đó họ tìm họ thấy, họ ré la lên. Lúc đó người ngoài cuộc họ sao? Lúc đó thấy người ta mừng biết mừng cái gì không ? Đâu có biết bởi vì cái chuyện đó họ tìm họ gặp họ mừng chớ mình không có không có gặp sao mình mừng? cho nên mình không thể nào biết được chỉ khi nào mình tìm mình gặp mình mừng như họ thì đó lúc đó mới biết, đó là ví dụ tạm để cho Phật tử này hiểu cái ý câu chuyện “đâu ngờ” của Lục Tổ.

Bởi vì chúng tu mà không bao giờ nghĩ mình tìm cho ra cái chân thật của mình. Cứ tu Phật dạy tu cho có phước làm lành, tụng kinh có phước v..v… chỉ làm mấy cái đó thôi đâu có thắc mắc, đâu có tìm thì đâu có “đâu ngờ”.

3. Thì quý vị thay tôi trả lời ý nào đúng? Nếu trả lời ý nào cũng đúng thì tôi trả lời ý nào cũng sai. Bởi vì nếu nói rằng đợi khá giả tài lợi nhiều chừng ấy mới làm việc bố thí thì chắc cả đời không khá giả thì chưa bố thí bao giờ phải không? Thì cả đời mình khó mà làm được việc thiện . Người nói tâm mình muốn bố thí thí mình liền có đồ vật để bố thí cũng hơi duy tâm quá. Vì thế cả 2 nên dung hợp cho nhau vừa nghĩ bố thí vừa cố làm cho có tiền bạc . Có tiền bạc rồi mình nghĩ giúp người cho nên đồng tiền mình làm ra có phần nào hơn chút thì mình lấy ra giúp người ta. Như vậy đó vừa có cả 2 vừa nghĩ việc bố thí vừa làm ra của bố thí thì mới hợp chớ đứng 1 bên thì nó không hợp.

4. Thực ra biết vọng không phải làm mạnh ý tưởng này xua đuổi ý tưởng khác mà nó thế này, chủ yếu tôi dạy biết vọng là cả 1 đời chúng ta từ bé đến giờ tất cả những suy nghĩ của mình, mình đều cho đó là tâm thật của mình. Bời chấp nó là tâm thật nên mình đuổi theo nó, lệ thuộc vào nó.

Bây giờ mình biết nó là hư vọng không đuổi theo nó là cái biết tỉnh số 1. Biết nó là hư dối, vọng là dối đừng lệ thuộc vào nó biết nó là dối thì không cho nó ra oai tác oái gì nữa. Còn nếu thấy nó là thật thì mình vẫn lệ thuộc vào nó. Cho nên biết vọng là cái nhìn đúng lẽ thực để mình không bị nó sai sử. Đó là lối chủ trương của tôi.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 216: Linh hoạt trong tu tập

Câu 39

Phật tử hỏi:

Thưa sư ông hoan hỷ chỉ dạy giùm con ban đêm ngồi từ mấy giờ đến mấy giờ? Ban ngày ngồi từ mấy giờ đến mấy giờ? Buổi sáng khoảng 5h hoặc 6 giờ sáng ngồi có tốt hay không? Nay gia đình con khó khăn chưa có điều kiện thường ngồi vì con bận đi học rồi về phụ giúp gia đình nên ngồi không được xin sư ông chỉ giùm phải làm sao ?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật tử này bận việc học hành và còn phụ giúp gia đình cha mẹ nên không có thời giờ ngồi tu . Thành thử ra cái tu không ép buộc, nếu lúc nào nào ban đêm bàn ngày lúc nào mà rảnh rang muốn ngồi tập cho tâm trí sáng suốt thì khoảng 5h đến 6h sáng là khoảng tốt nhất, chớ còn không có nên ngồi khoảng 12h khuya.

Còn nói gia đình bận rộn không có giờ ngồi thiền thì phật tử này nên sữ dụng lối tu thân, miệng, ý vừa có 1 cái sai liền chuyển nó đừng để nó tạo ra cái nghiệp ác, nghĩ sai liền bỏ, nói sai liền chừa, hành động sai liền sửa lại thì như vậy mình chuyển 3 nghiệp mình được rồi, Chớ không phải đợi ngồi thiền mới tu.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 217: Tái sinh và vô sinh

Câu 40

Phật tử hỏi:

Bạch thầy kính mong thầy dạy chúng con tu chưa chứng quả A La Hán chưa đắc quả vô sanh vậy khi thân tứ đạo tan rã tánh giác ông chủ có đi đầu thai hay không nếu không thì ở đâu?
Tánh giác và giác linh khác nhau như thế nào?

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật tử này lo mình tu chưa chứng quả A La Hán mà khi mình chết tứ đại tan rã thì ông chủ mình đi đâu? Đi đầu thai hay tái sanh hay không? Nêu không đầu thai tái sanh thì ở đâu?
Cái chỗ này không có gì lạ, nếu mình chưa chứng quả A La Hán chưa đắc vô sanh thì bảo đảm mình còn tái sanh bởi vì chưa vô sanh thì còn tái sanh chớ không nghi ngờ gì hết, tái sanh chỗ này chỗ kia tùy phúc duyên của mình lành nhiều ít, chỗ tốt xấu không có cố định. Như vậy thì Phật tử này đừng lo khi mình chưa chứng vô sanh ông chủ mình tái sanh hay đi đâu, đừng lo cái đó mà ổng sẽ đi dài dài trong lục đạo chớ ổng chưa có dừng đâu, đừng lo.

Tánh giác và giác linh khác nhau thế nào? Thì ờ chỗ nào thì là từ ngữ thôi. Tánh giác là cái hiểu biết sáng suốt mà ai nấy cũng thường có thì gọi là tánh giác. Còn giác linh là người chết rồi nhất là người tu người ta muốn tôn xưng một chút, sợ nói hương linh về ăn nghe cúng tới gì đó nghe nó phàm tục quá, cho nên những vị xuất gia rồi người gọi là giác linh chớ không nói là hương linh, thì đó cũng là 1 danh từ thôi.

Nhưng mà cái tánh giác là cái tất cả mọi người đều có, còn cái giác linh nói khi chỉ người chết mà những người đó mình tin họ có cái sáng suốt hơn kẻ khác thì mình gọi đó là giác linh.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

Lời dạy 218: Tinh thần Phật giáo Việt Nam

Câu 41

Phật tử hỏi:

Kính bạch thầy khi tọa thiền xong sau phần hồi hướng con luôn thành tâm cầu nguyện hồng ân tam bảo mười phương tam thế Phật thường từ gia hộ cho thầy, thiền viện Trúc Lâm do thiền sư Thích Thanh Từ sáng lập xây dựng nên ở T.P Đà Lạt mãi thường trụ theo thời gian để nêu cao ngọn đèn Chánh pháp của Đức Như Lai. Con nghĩ như vậy để góp công đức vào thiền viện có đúng không? Cuối xin thầy chỉ dạy để toàn thể Phật tử chúng con đồng tâm Phật lực gia hộ thêm lớn mạnh.

_(())_ Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

Sư đáp:

Phật tử này nhiệt tình cầu nguyện cho thiền viện Trúc Lâm được sớm thành tựu và được lâu dài để ngọn đèn chánh pháp được bền lâu. Thì thực tình dù chỉ phát tâm hồi hướng cầu nguyện cũng là sự đóng rồi. Như tôi thường dẫn ở trong Kinh Tứ Thập Nhi Chương Đức Phật đã nói, nếu 1 người bố thí tức là có của đề bố thì, mà người khác không có của để bố thí chỉ có phát tâm tùy hỷ. Thì công đức của người bố thí và công đức người phát tâm tùy hỷ ngang nhau.

Cũng như cây đuốc mình đốt cháy, có người cầm cây đuốc chưa đốt lại mồi thì 2 cái ngọn đuốc khi mồi sáng rồi thì đều sáng như nhau thì như vậy công đức tùy hỷ cũng lớn lắm.

Bây giờ Phật tử phát tâm hồi hướng cầu nguyện phụ cho tôi để sớm thành tựu thì điều đó rất tốt mà nói cái đó nhiều khi quý Phật tử ở đây nghe tôi làm thiền viện trên kia, thế là không biết tôi làm với mục đích gì? Nghe thì mừng vậy thôi.

Thiền viện trên kia tôi có mục đích xây thiền viện Trúc Lâm để làm 1 cái gì đó cho Phật giáo Việt Nam. Bởi vì lâu nay tôi được nghe và có những phái đoàn họ tới, họ xin hướng dẫn tìm 1 ngôi chùa nào của Việt Nam tu có được mẫu mực để họ tới nghiên cứu. Nhưng mà sự thực chùa mình bây giờ nếu nói thẳng mà nghe thì không có chùa nào tu đúng tinh thần Việt Nam. Nếu Phật giáo Đại thừa thì tụng kinh theo Trung Quốc, Phật giáo nguyên thủy thì tụng kinh Pali thì cái nào Việt Nam ?

Như quý Phật tử đến ngày rằm 30 quỳ sám hối , lẽ ra mình phải phơi bày lỗi lầm để mình sám hối đằng này cứ đọc thị chư Phật đẳng thế giới chư Phật…đọc rồi không biết gì hết, đọc rồi đứng dậy lạy rồi đi, sám hối xong. Thì như vậy mình hối mà không biết mình nói cái gì? Thì như vậy có phải là Phật giáo Việt Nam chưa? Kể cả quý Phật tử cúng cái gì? Cầu cái gì? Quý thầy thực hiện toàn âm Hán Việt không à chớ không tiếng Việt mình chút nào.

Thì như vậy muốn tìm 1 ngôi chùa thực tu theo đường lối Phật giáo Việt Nam thì không có. Tại sao Phật giáo ở Ấn Độ sang Trung Hoa chuyển thành nghi thức Trung Hoa, sang Nhật Bản chuyển thành nghi thức Nhật Bản mà Việt Nam mình không chuyển nổi? Đó là cái mình thấy mình lệ thuộc văn hóa 1 cách đau đớn, bởi vậy tôi bắt thiền viện Trúc Lâm thực hành cái gì của Việt Nam , ngôn ngữ Việt Nam, đường lối tu Việt Nam mình tu Phật là ông Phật ở Việt Nam chớ không Phật ở Trung Hoa.
Thường sám hối lâu nay các chùa sám hối Hồng Danh còn nếu Phật tử rảnh thì sám hối Lương Hoàng Sám, rảnh chút nữa thì sám hối Từ Bi Thủy Sám…v.v.. Những nghi thức do các Tổ Trung Hoa bày sắp . Chưa có nghi thức nào do các Tổ Việt Nam mình sắp, thực ra đời Trần vua Trần Thái Tông có soạn lục thời sám hối ở trong khóa Hư Lục còn ghi chép rõ, hết sức là hay "sám hối sáu căn: mắt , tai , mũi , thân, ý và 6 căn mình mỗi ngày đều làm cái gì phạm lỗi lầm thì sám hối. Mà cái lỗi lầm là từ 6 căn mà ra chứ đâu cho nên trong kinh Lăng Nghiêm Phật nói: 6 căn là nhân luân hồi sanh tử, 6 căn là nhân giải thoát sanh tử vì vậy nó là gốc để mình tu mà mình ít có để ý. Nghi thức của Tổ Việt Nam soạn mình không để ý còn ở Trung Hoa theo đó ứng dụng. Vậy thì Trúc Lâm tôi bắt theo lục thời sám hối của Ngài Trần Thái Tông.

Tu cũng vậy, tu cũng theo ácch của các Tổ Trung Hoa bày ra, chớ còn ở Việt Nam thì ít ai chú ý. Bởi vậy chúng tôi phải tạo cố tình tạo điều kiện làm sao có hướng đi tu hành đúng với tinh thần Việt Nam, Phật giáo ở Việt Nam. Đó là chủ yếu của thiền viện Trúc Lâm. Ở đây chúng tôi là có lai căn mới có phân nửa bởi vì sống chung với các chùa nhiều mình đi chuyên môn không tiện, trên kia thì tôi cô lập mình phải thực hiện cái gì của mình đủ điều kiện, nhà nước ũng như giáo hội thừa nhận mình lập thiền viện để tu đúng tinh thần Việt Nam thành ra mình có thể làm được,. Đó là cái chủ yếu mà Phật tử này tha thiết muốn.

Trích từ “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa & Tham Vấn”

————

Nguồn: facebook Chánh Thiện Đạt

************

LỢI ÍCH CỦA TU THIỀN 
——– HT. Thích Thanh Từ
 

Đề tài chúng tôi nói hôm nay là lợi ích của sự tu thiền, song chỉ nói hạn chế trong một phần thiết yếu thôi. Trước khi nói về lợi ích của sự tu thiền, chúng tôi xác nhận lại rõ ràng tu thiền ở đây là tu theo phương pháp của đạo Phật, chớ không phải thiền của các môn phái khác. Nếu chúng ta hiểu rõ và ứng dụng đúng cách, sẽ có những lợi ích như thế nào, đó là chỗ chúng tôi muốn trình bày.

australia-meditation_medium

Nói đến lợi ích của tu thiền nghĩa là nói đến lợi ích của đạo Phật. Bởi vì mục đích của đạo Phật là lấy giác ngộ giải thoát làm nền tảng. Các lợi ích khác nếu có chỉ là phần phụ, chớ không phải gốc. Nếu chúng ta tu thiền theo đạo Phật thì phải thấy rõ làm sao đi đến chỗ cứu kính giác ngộ được đạo, thấy rõ chân lý của kiếp người, của chúng sanh. Đồng thời, ta làm chủ được mọi sự trói buộc mọi sự lôi kéo để thành con người tự do giải thoát. Đó là mục đích của đạo Phật. 

Trong phần lợi ích phụ, trước tôi nói lợi ích về thân. Tất cả những vị đã có ý chí tu hành, đều biết càng tu càng được sáng suốt, chớ không thể trở thành người bạc nhược yếu đuối, mờ mịt tối tăm. Thế nên người tu Phật thường tránh những thái độ cực đoan, mà phải giữ trung đạo. 

Như Thái tử Tất-đạt-đa khi mới đi tu, Ngài học hỏi với những triết gia hay các vị tu tiên, nhưng không thỏa mãn được mục tiêu, bản hoài của mình đã ôm ấp. Vì vậy Ngài tìm đường tu riêng. Trong sử kể Ngài tu khổ hạnh mấy năm liền, đến nỗi thân thể chỉ còn da bọc xương, cuối cùng đi đến ngất xỉu bất tỉnh. Từ đó Ngài mới biết phương pháp khổ hạnh không đem lại giác ngộ và giải thoát sanh tử, nên Ngài từ bỏ khổ hạnh. Sau này, Ngài ăn ngày một bữa và sống bình thường, chỉ cốt tọa thiền sao cho tâm được định, nhờ thế mới đi tới giác ngộ. Vì vậy Ngài dạy người học Phật phải tránh hai thái độ cực đoan: Một là khổ hạnh, hai là hành lạc. Hành lạc nói theo thế gian là trác táng. Khổ hạnh và hành lạc là hai thứ bệnh mà người tu Phật không nên có. 

Một số người tu Phật có vẻ kỳ bí thì chúng ta nên xét lại, thật ra họ chỉ mượn tên đạo Phật thôi, chớ không tu đúng tôn chỉ Phật dạy. Thí dụ những vị tu không ăn cơm, chỉ ăn rau hoặc các loại khoai củ, cho đó là tu hay. Có người tu Phật lại tịnh khẩu, không nói chuyện. Nhưng với đạo Phật điều đó không quan trọng. Người tu Phật rất bình dị, biết điều hòa tiết dục để đầy đủ sức khỏe, cuộc sống an ổn bình thường. Không phải tu Phật là không ăn cơm, là tịnh khẩu v.v… những việc ấy không phải gốc của đạo Phật. Do đó người biết tu Phật hay biết tu thiền, điều kiện đầu tiên là sống điều độ, biết tiết dục. Điều độ là trong cuộc sống ăn, nghỉ chừng mực điều độ, đối với các dục lạc phải hạn chế, không buông lung trác táng. Nhờ thế cuộc sống được tốt đẹp. Đó là lợi ích đầu tiên của người tu thiền.

Thứ hai là lợi ích của việc ngồi thiền. Người biết ngồi thiền đúng phương pháp sẽ chống được thời tiết thay đổi bất thường, ít bị các bệnh ngoại cảm. Tại sao? Nếu ai có thực tập ngồi thiền sẽ thấy, chúng ta đang hơi cảm, bị lạnh, muốn sổ mũi v.v… nhưng khi bắt chân lên tọa thiền từ một giờ trở lên, chúng ta thấy người ấm lại. Tất cả những triệu chứng ngoại cảm xâm chiếm từ từ tan dần. Đó là một lẽ thật. Ngày xưa, khoảng năm l970 tôi ở trên núi Vũng Tàu, mỗi khi thời tiết thay đổi, tôi ngồi thiền thì không bị cảm. Từ đó tôi mới thấy mình tu không phải để trị bệnh, không phải để sống dai, nhưng chính nhờ tọa thiền nên bệnh được giảm và mình sẽ không bị thời tiết làm bệnh tật. Đó là lợi ích thiết thực của sự tu, giúp cho chúng ta khỏi tổn sức khỏe, khỏi tốn hao tiền bạc thuốc men. 

Thưa thật năm l961, tôi bị bệnh phổi phải vào bệnh viện điều trị. Bệnh này khi thời tiết thay đổi dễ bị cảm lắm, mỗi lần cảm là ho. Nhờ tôi lên núi tu thiền nên không có bệnh cảm. Vì bệnh cảm không có nên bệnh phổi từ đó về sau cũng không tái phát, mặc dù chúng tôi vẫn giảng dạy đều đặn như thường. Rõ ràng sức tu giúp cho mình tăng thêm sức  khỏe. 

Khi bệnh phải siêng tu, phải vui lên mới mau hết bệnh. Bệnh mà buồn thì con người sẽ thấy yếu đuối dã dượi, nên ưa nằm. Càng nằm lại càng bệnh, cứ thế sức khỏe suy kiệt dần, bệnh từ nhẹ bước sang nặng. Còn vui thì bệnh có nặng cũng thấy nhẹ. Như khi ta đang bệnh nằm, giả sử có người bạn chí thiết đã lâu không gặp, bỗng dưng về thăm, mình mừng quá nói chuyện một hồi quên đau luôn. Để thấy ta vui lên thì những bệnh nhỏ nhỏ mất hết. Bởi vậy nên nội tâm, nếu bỏ được lo sợ, buồn rầu thì tự giảm được một phần lớn bệnh hoạn. Ngược lại cứ ôm ấp lo buồn, dù bác sĩ hay giỏi cách mấy trị bệnh thì cũng chưa chắc có hiệu nghiệm. Tóm lại về thân chúng ta sanh bệnh do hai lý do, một là thời tiết, hai là tâm lý bất ổn.

bode01

Bây giờ người tu thiền nhờ tọa thiền, có sức ấm đuổi tan được ngoại cảm, đó là chống được thời tiết. Buông xả tất cả các tâm niệm lo sợ buồn rầu, trong lòng thảnh thơi, bệnh cũng không xâm nhập được. Đó là chúng tôi nêu lên hai phần bệnh về thân. 

Kế đến nói bệnh về tâm. Thứ nhất là tâm tán loạn, bồng bột. Ở thế gian có nhiều người khi thích cái gì, hay bực bội điều gì trong tâm tán loạn, có những ý niệm rất sôi nổi bồng bột, không làm chủ được mình. Do đó họ có những tác động gây tai họa cho mình, cho người không thể lường được. Chúng ta tu thiền cốt làm sao lóng lặng được những tâm niệm tán loạn, bồng bột ấy. Vì vậy đối trên mặt tâm niệm, việc tu thiền có kết quả đầu tiên là dừng lặng bớt tâm tán loạn, tâm bồng bột. Đó là lợi ích thứ nhất về tâm. 

Thứ hai, người biết tu thiền sẽ kềm chế được tham, sân và si. Thế gian không có khổ gì bằng nóng giận, đó là sân. Nhưng nóng giận không phải tự nó có, do ta mong muốn điều gì mà không được nên nổi sân. Vì vậy tu thiền, chúng ta sẽ kềm chế được nóng giận, tham lam, và nhất là dẹp được si mê. 

Thứ ba, nhân tu thiền mà tâm chúng ta được an ổn, thanh tịnh. Đó là lợi ích lớn của  người tu thiền. 

Thứ tư, do tu thiền nên trí tuệ càng ngày càng sáng tiến lần tới giác ngộ. Đây chính là lợi ích lớn nhất của sự tu thiền. 

Vì vậy các Thiền viện, Tăng Ni đều được thực tập tọa thiền, ứng dụng tu đúng với phương pháp Phật dạy để có lợi ích thiết thực. Tu thiền là phải ứng dụng, chớ không chỉ nói suông. Ở đây chúng tôi nói lý thuyết cho quí vị có một cái nhìn đúng đắn về tu thiền, chớ chưa đi vào thực tập, nên cũng chưa thấy kết quả cụ thể. 

Có một lợi ích lớn nữa của việc tu thiền, đó là không sợ chết. Tất cả chúng ta ai cũng sợ chết. Chết là cái đáng sợ nhất, nên nó trở thành cái khổ nhất của con người. Người tu thiền, khi đã nhận hiểu được đạo lý, ứng dụng được phương pháp tu rồi, đối với sanh tử sẽ thế nào? Đây là điều hết sức quan trọng. Ở đây tôi xin dẫn một ít câu chuyện nhỏ về việc này. 

Câu chuyện thứ nhất của một Thiền sư cư sĩ Trung Hoa là ông Bàng Long Uẩn. Ông là một nho sĩ đời Đường, nhưng lại nghiên cứu về Phật, nhất là thiền. Sau này ông ngộ đạo ở hai vị Thiền sư nổi tiếng là Mã Tổ Đạo Nhất và Thạch Đầu Hy Thiên. Ngộ đạo rồi, nhưng ông không xuất gia, vẫn tu trong hình thức cư sĩ. Ông có hai người con, một trai, một gái và người vợ. Với sự khéo léo giáo dục vợ, con đều biết tu như ông. Mỗi khi gia đình hội họp bàn luận đều đem chuyện đạo đức, tu hành mà nói, chớ không theo thế tục. 

Khi gần tịch, ông biết trước nên chuẩn bị sẵn. Hôm đó, ông bảo người con gái là cô Linh Chiếu: Con ra ngoài xem mặt trời đúng ngọ, vô cho ba hay. Cô Linh Chiếu chạy ra nhìn mặt trời thấy đúng ngọ, nhưng biết trước ý định của cha nên cô đánh lừa, nói: Thưa ba, mặt trời đã đúng ngọ nhưng bị nguyệt thực, ba ra coi. Ông tưởng thật, bước ra ngoài xem. Lúc trở vô, ông thấy cô con gái đã lên ngựa giữa ngồi kiết già nhắm mắt tịch. Ông cười nói: Con gái ta lanh lợi quá, rồi ông lo mai táng cho con. 

Sau đó ông báo tin cho bạn bè thân biết bảy hôm nữa ông sẽ tịch. Bảy hôm sau có người bạn thân tới ngồi bàn đạo, hồi lâu ông nói: Thôi tôi mỏi mệt, anh cho tôi nằm gá trên đầu gối nghỉ một chút. Nói xong, ông liền nằm xuống gá trên đầu gối người bạn, thở khì một cái rồi tịch luôn. 

Người ta chạy báo tin cho bà vợ và người con trai hay. Bà vợ đang nấu cơm, người con trai đang cày ruộng. Khi được tin, bà chạy ra đồng cho người con trai hay: Con ơi, con nhỏ ngu si và ông già vô tri đi rồi. Nghe thế, người con trai đứng tại chỗ tịch luôn. Bà Long Uẩn bèn nói: Cái thằng ngu si này cũng đi nữa. Lo mai táng xong xuôi hết cả nhà, bà từ giã làng xóm lên núi tịch luôn. Cả một gia đình muốn sống là sống, muốn chết là chết, tự tại. Nên có một bài sám viết “In như thiền định họ Bàng thuở xưa” là vậy.

Đó là vị cư sĩ ở Trung Hoa, ở Việt Nam ta có ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Khi sắp tịch, Ngài bảo đặt một cái giường tại Dưỡng Chân Trang nơi nhà giữa, Ngài ra đó nằm rồi nhắm mắt tịch. Mấy bà thê thiếp hay được, chạy ra khóc rống lên. Ngài ngồi dậy bảo đem nước cho Ngài súc miệng rửa mặt, rồi quở: Chết sống là lẽ thường nhiên, tại sao làm náo động chân tánh ta? Quở xong, Ngài nằm xuống nhắm mắt tịch. Như vậy cư sĩ Trung Hoa, cư sĩ Việt Nam tu hành vẫn tự tại như thường, chớ không luận là người xuất gia. 

Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có làm bài thơ “sanh tử nhàn nhi dĩ ” tức chết sống là chuyện nhàn thôi, không có gì quan trọng. Tôi chỉ trích hai câu chót để chúng ta thấy được tánh cách sanh tử nhàn của Ngài. Nguyên văn chữ Hán:

            Ngu nhân điên đảo bố sanh tử,
            Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.

Dịch:

            Người ngu sống chết mãi lo âu,
            Kẻ trí rõ không nhàn thôi vậy.

Nghĩa là người ngu điên đảo sợ sanh tử, còn người trí thấu suốt nên nhàn thôi vậy. Đối với người liễu đạt được lý đạo, việc chết sống là việc nhàn, không có gì quan trọng hết. Chúng ta thấy chẳng phải chỉ giới tu sĩ mới có công dụng tu hành tự tại trong sanh tử, mà kể cả người cư sĩ tại gia, vẫn tự tại trong sanh tử như thường. Điều đó hết sức rõ ràng. 

Bây giờ tới một Thiền sư Việt Nam là ngài Pháp Loa. Năm bốn mươi hai tuổi sắp tịch, đồ đệ Ngài đến than thở, yêu cầu xin cho ít lời kệ. Ngài ngồi dậy viết:

            Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,
            Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.
            Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
            Na biên phong nguyệt cánh man khoan.

Dịch:

            Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn,
            Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng.
            Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,
            Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

“Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn”, tức là muôn duyên cắt đứt một thân nhàn. Lúc hết duyên để ra đi, đó là muôn duyên đã cắt đứt. Cắt đứt rồi sao? Chỉ còn một thân nhàn. Chữ thân nhàn đây đừng nghĩ là thân xác thịt. “Tứ thập dư niên mộng huyễn gian”, hơn bốn mươi năm chỉ là khoảng thời gian như mộng huyễn, không có gì quan trọng. “Trân trọng chư nhân hưu tá vấn”, tức là nói cho mọi người: Thôi đừng hỏi chi nữa. “Na biên phong nguyệt cánh man khoan”. Na biên tức là bên kia, bên kia trăng gió rất mênh mông. 

Như vậy việc nhắm mắt đối với Ngài không phải chuyện khổ đau, mà là đang hướng về một nơi an nhàn, thênh thang. Đó là hiện tượng tốt đẹp của các Thiền sư khi ra đi. Các Ngài rất tự tại vui vẻ trước giờ phút lâm chung, không hề có chút sợ sệt. Tại sao? Tôi thường ví dụ như ta có chiếc ô tô cũ nên hay hư, có khi phải đẩy nó mới chịu đi, tìm thợ sửa thật cực nhọc. Chiếc xe hư như vậy, chúng ta không có tiền sắm một chiếc xe mới thật là khổ. Bây giờ mình tích lũy, dành dụm được một số tiền lớn, chiếc xe này hư chúng ta có khả năng mua chiếc xe đẹp hơn, tốt hơn. Đó là việc nên buồn hay không nên buồn? Chiếc xe cũ hư, chúng ta sắm được xe đẹp mới tốt hơn, tại sao lại buồn? Nếu cứ mang xe cũ hoài, nó chạy cục kịch, mình mệt, có phải chán không. Cũng vậy, người biết tu rồi đối với thân này, biết là thân bại hoại không thể giữ mãi. Khi nào còn tốt dùng được thì dùng, khi nào hư thì thôi, không luyến tiếc. Tại sao không luyến tiếc? Vì mình đã biết tu, đã tích lũy những nghiệp lành, giống như người đã tích lũy được nhiều tiền, hư xe cũ sắm xe mới đẹp hơn. Có gì phải buồn? Do đó nên không buồn, không sợ dù biết nay mai ta sẽ chết, nhưng lòng vẫn an nhiên tự tại. Chỉ tích lũy nghiệp lành thôi đã an ổn rồi huống nữa chúng ta tu và nhất là tu thiền. 

Tu thiền là phải nhìn thấy tường tận được cái chân thật của mình. Ngay thân tạm bợ này có một cái chân thật mà chúng ta quên. Bây giờ nhớ lại nhận ra được, thì cái tạm bợ còn mất không quan trọng nên hết sợ. Nếu chưa nhận được thì mất thân này phải sợ, vì không biết rồi đây sẽ ra sao. Cho nên có câu “Đường trước mờ mờ không biết đi đâu?” Như ngài Pháp Loa đã nói “Bên kia phong nguyệt cánh man khoan” tức là bên kia trăng gió mênh mông, có gì buồn có gì lo. 

Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện, một hôm có vị cư sĩ là Lục Hoàn Công hỏi: 

– Bạch Hòa thượng, có người nuôi con ngỗng trong một cái bình. Lâu ngày nó lớn vừa khít cái bình. Bây giờ muốn đem con ngỗng ra mà đừng đập bể bình, xin Hòa thượng đem ra giùm. 

Khi đó ngài Nam Tuyền liền kêu: 

– Lục đại phu! 

Đại phu ứng thinh:

– Dạ. 

Ngài nói: 

– Ra rồi. 

Ngay đó Lục Hoàn công liền tỉnh ngộ. Đây là một thuật khéo trong nhà thiền. 

Như hiện giờ tôi đang nói chuyện quí vị có nghe không? Nghe. Nhưng khi tôi im lặng, quí vị có nghe không? Đa số trả lời không nghe. Tôi nói quí vị bảo có nghe, tôi im lặng quí vị bảo không nghe. Như vậy quí vị có lỗi lớn là quên mình theo vật. Tại sao? Khi tôi nói thì có tiếng, quí vị nghe có tiếng. Khi tôi im lặng thì không có tiếng, quí vị nghe không có tiếng, tại sao bảo không nghe? Tiếng là ở tôi, nghe là nơi tai quí vị. Tai quí vị có lúc nào điếc đâu mà bảo không nghe. Nhưng lâu nay chúng ta có bệnh, có tiếng thì bảo có nghe, không tiếng thì bảo không nghe. Đó là quên mình. 

Cũng thế ở mắt, ở tai, ở mũi, ở lưỡi, ở thân chúng ta lúc nào cũng sẵn có tri giác. Nhưng những tri giác hiện hữu đó, chúng ta lại quên, chỉ biết khi suy gẫm chuyện gì thì cho cái hiểu biết, suy gẫm đó là tâm mình. Còn cái hằng hữu nghe, thấy, cảm xúc v.v… chúng ta tưởng như không phải mình nên gọi là quên mình. Những suy nghĩ của chúng ta có khi sanh có khi diệt, còn cái nghe, cái thấy của mình đâu có sanh diệt. Có nghe tức là có biết, có thấy là có biết, cái thấy biết đó không sanh diệt mà chúng ta quên.

Trong kinh Lăng Nghiêm có câu chuyện rất lý thú. Khi đức Phật giải thích về các tánh thấy, nghe… nơi mỗi chúng ta, ngài A-nan hỏi: 

– Bạch Thế Tôn, theo lời Phật dạy con mắt luôn luôn thấy, lỗ tai luôn luôn nghe. Vậy người mù không có con mắt, họ có thấy không? 

Phật bảo ngài A-nan: 

– Ngay bây giờ ông tìm những người mù, hỏi “trước mắt thấy gì”, họ sẽ trả lời “tôi thấy tối đen”. Người mù thấy tối đen và người sáng mắt ban đêm vào căn nhà tối không có đèn, cũng thấy tối đen. Như vậy cái thấy tối đen của người có mắt và người mù khác không? Không khác vì đều thấy tối đen. 

Bây giờ khi bật đèn sáng, người mắt sáng liền thấy cảnh vật trước mắt. Phật hỏi: 

– Là con mắt thấy hay ngọn đèn thấy? 

Ngài A-nan trả lời: 

– Đó là mắt thấy. 

Phật bảo: 

– Như vậy nếu người mù được mổ, cạo những mây mù, họ sáng ra liền thấy cảnh vật bên ngoài. Đó là cái gì thấy? Nên biết con mắt dù có, nhưng thiếu đèn thiếu ánh sáng cũng không thấy, còn cái hay thấy sẵn có nhưng vì bị mây mù che đậy nên cơ quan ấy hư thì mình không thấy, sửa lại liền thấy. Rõ ràng cái thấy đâu có vắng mặt. Vì cơ quan mắt hư, chớ không phải cái thấy không có.  tinhthanthientong2Như vậy để chúng ta nhận biết rằng nơi mình có một cái hằng tri, hằng giác hiện ở các cơ quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chớ không phải chỉ suy gẫm mới gọi là có hiểu biết. Cái hiểu biết ấy đã ngầm sẵn trong các bộ phận đó. Khi tu thiền, lặng hết các suy nghĩ lăng xăng rồi, lúc đó chúng ta càng sáng rõ hơn, chớ không phải không biết. 

Như hiện giờ chúng ta đứng trên bờ biển nhìn xuống những lượn sóng nổi dưới mặt biển. Có lượn to có lượn nhỏ. Lượn sóng nào quá to có khả năng đánh đắm tàu, nhưng nếu nhìn trên mặt biển lượn sóng ấy chiếm chỉ một tí ti toàn diện tích mặt biển. Khi trăm ngàn lượn sóng như thế lặng xuống thì mặt biển rộng lớn chừng bao nhiêu? Không thể kể được. Những lượn sóng chỉ là tướng chập chờn khi có khi không mà còn tác dụng phi thường, huống nữa các lượn sóng đó lặng xuống, mặt biển thênh thang thì diệu dụng của nó thật không thể lường. 

Cũng vậy, tâm niệm suy gẫm tính toán của chúng ta sanh diệt từng đợt. Thế nhưng con người đã tạo nên biết bao hiệu dụng lớn lao từ những đợt tâm niệm đó. Có thể nói họ muốn thế giới còn thì còn, muốn thế giới hoại thì hoại. Nếu một ngày nào đó, những tâm niệm lăng xăng ấy lặng xuống hết, chỉ còn một thể tri giác sáng suốt trùm khắp thì chúng ta thử nghĩ xem diệu dụng ấy tới ngần nào. 

Cho nên người tu thiền cốt đạt được cái chân thật sẵn có nơi mình, đó chính là mục đích cứu kính, là lợi ích cùng tột trên đường tu. Do đó chúng tôi thường nói cái thật hiện tiền nơi mình mà mình lại bỏ lơ, đi tìm những thứ gì xa xôi ở đâu đâu. Đó là điều đáng tiếc và cũng đáng trách nhất của con người mê muội. 

Vì vậy lợi ích lớn của tu thiền trong đạo Phật, là đem lại sự quân bình cho nhân loại. Điều này rất quan trọng. Nói tới đem lại sự quân bình cho nhân loại, chúng ta phải nhìn hiện giờ nhân loại đang mất quân bình cái gì? Trước hết, hiện tại mọi người đều thấy khoa học kỹ thuật là vạn năng, có thể đem lại cho con người mọi nhu cầu vật chất sung mãn. Nhưng khi con người lao theo hình thức vật chất thì lại quên mất mình. 

Ai cũng thế, khi thiếu cái ăn cái mặc, thì cắm đầu lo cho cái ăn cái mặc, nên quên hết mọi thứ khác. Song việc ăn mặc không có giới hạn. Lúc chưa có cơm ta chỉ nghĩ có được cơm là quí rồi, nhưng khi có cơm ta lại muốn có thức ăn ngon. Cứ như vậy muốn thêm, muốn thêm hoài. Tất cả những nhu cầu vật chất không bao giờ thấy đủ. Vì thế con người cứ lao theo vật chất, càng lao theo vật chất thì càng quên mất mình.

Chúng tôi đi ra nước ngoài, thấy có nhiều Phật tử Việt Nam rất đáng thương. Họ kể lại có khi sáng sớm đã phải lo thức ăn đem theo vô sở làm. Làm tới trưa nghỉ được nửa giờ, rồi làm cho tới chiều tối mới về. Ngày nào cũng như ngày nào, đi phải đi sớm, trễ mười lăm phút thì bị đuổi sở. Thành thử ai cũng nơm nớp lo đi làm sớm, về cũng đúng giờ, không được về trước, luôn luôn đi sớm về tối. Vì vậy Phật tử ở nước ngoài hay dùng từ đi cày. Sớm đi tối về như vậy, nên không còn thì giờ nghĩ tới chuyện con cái, chuyện an ổn tâm hồn. 

Rõ ràng càng đuổi theo vật chất người ta càng dễ quên mình. Mà đã quên mình thì tự nhiên lệ thuộc vào máy móc. Làm gì cũng máy móc điều khiển chớ không phải con người điều khiển máy móc nữa. Giờ nào việc nấy, không sai suyển được. Cho nên cả ngày không có phút giây nào an ổn. Như vậy tuy khoa học vạn năng, nhưng nếu chúng ta cứ đuổi theo mãi thì sẽ bị quên mất mình. Đó là điều thứ nhất. 

Thứ hai, khoa học là môn học rất khách quan. Các nhà khoa học tìm kiếm phát minh cái gì là để cống hiến cho nhân loại, chớ không dành chủ quyền cho riêng mình. Ví dụ phát minh ra nguyên tử, họ đâu có nghĩ rằng mai kia nguyên tử sẽ trở thành những quả bom tiêu diệt nhân loại. Nếu nghĩ như vậy chắc các nhà khoa học không phát minh đâu. Khi phát minh thì cứ phát minh, nhưng lúc sử dụng lại còn tùy thuộc người khác. Người tốt thì đem đến lợi ích cho nhân loại, người xấu thì gieo rắc tai họa không thể lường nổi. Khoa học rất lợi, rất hữu ích nhưng con người dùng nó có khi lợi, có khi hại. Do đó nhiều người nói rằng khoa học là con dao hai lưỡi. Đây là điều chúng ta thấy cẩn thận, dè dặt. 

Nhiều người cho rằng thời văn minh này khó tu. Tại sao khó tu? Vì ngoài việc làm ở sở về, còn bao nhiêu thì giờ bị ti-vi chiếm hết rồi, xem ti vi xong là lăn ra ngủ, đâu có nhớ tới tu. Cứ như vậy ngày qua ngày không có thời gian rảnh rỗi. Gần đây báo chí cho biết hiện nay tình trạng tự tử của người Tây phương có thể nhiều hơn người Á đông. Tại sao? Không phải vì nghèo đói tự tử, mà vì dư thừa quá nên tự tử! Tại sao vậy? Bởi vì khi chưa có ăn thì lo cho có ăn. Nhưng khi ăn mặc thừa rồi thì lại thấy cuộc đời sao vô vị quá, không có gì cao siêu, tự nhiên thấy chán nên không muốn sống nữa. Khi khoa học tiến cao tiến nhanh lại là lúc con người ta thấy hụt hẫng, thiếu một cái gì hết sức cần thiết trong cuộc sống. Thật lạ lùng! 

Ở đây đạo Phật quay lại chính mình, giải quyết vấn đề con người, làm sao hiểu được mình là cái gì? Đó là trọng tâm của đạo Phật. Như vậy đạo Phật giúp con người giải quyết được khi bị mất mình, khi thấy cuộc sống vô vị. Nếu biết trở lại mình có cái chân thật rồi thì không còn chán nản cuộc đời vô vị nữa. Như vậy chính đạo Phật đem lại sự quân bình cho con người trong thời đại khoa học kỹ thuật cực tiến này. 

Khi khoa học kỹ thuật được nâng cao quá mức, tự nhiên phần tinh thần đạo đức bị suy giảm. Đó là thiếu quân bình. Thiếu quân bình thì đưa tới tai họa bản thân dễ chán nản. Đối với xã hội, nhân loại, dễ gây ra những hiểm nguy bất thường. Do đó có được đạo đức chân thật sẽ giúp cho con người quân bình cuộc sống của mình an ổn. Cho nên điều này hết sức thiết yếu. 

Hiện giờ người Tây phương đang bị mất lòng tin về đạo đức cổ truyền, cho nên họ rất hụt hẫng. Người Đông phương có phước là còn được nền đạo đức vững chắc. Nếu người Đông phương vừa giỏi khoa học vừa vững đạo đức thì thật là lợi ích, chẳng những cho xứ sở quê hương mình mà cho cả nhân loại nữa. Chúng ta phải thấy rõ lợi ích của khoa học và thấy rõ lợi ích của đạo đức. Cả hai không thể thiên lệch một bên, mà phải nâng đều như nhau. Một con người đầy đủ tình thương, đầy đủ trí tuệ mà lại có nhiều phương tiện thiện xảo thì xã hội đẹp không thể tưởng được. Đó là điều chúng tôi hằng mong mỏi dân tộc mình đạt được, như thế xứ sở ta dân nhân ta có cuộc sống hay đẹp biết chừng nào! 

TranNhan Tong 1

Thiền sư Hương Hải ở Việt Nam chúng ta, Ngài tu theo hệ Trúc Lâm Yên Tử nhưng cách khá xa thời Tam tổ Trúc Lâm. Khi vua Lê hỏi Ngài: 

– Trẫm muốn được Hòa thượng dạy một đường lối tu cụ thể. 

Ngài liền nói bài kệ:

            Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,
            Thẩm sát tư duy tử tế khan.
            Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,
            Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

Dịch:

            Hằng ngày quán lại chính nơi mình,
            Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.
            Trong mộng tìm chi người tri thức,
            Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.

Ngài dạy muốn tìm cái hay của đạo Phật thì phải “Phản văn tự kỷ mỗi thường quan”, tức là phải luôn luôn nhìn lại mình cho thật tường tận. Mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm hay mỗi phút mỗi giây, ta thường xem xét lại mình, đó là điều thiết yếu. “Thẩm sát tư duy tử tế khan”, tức là phải xét nét, tra cứu kỹ càng việc đó. Như vậy sự tu của đạo Phật, trọng yếu là quan sát lại mình. 

Quan sát lại mình có hai trường hợp: Một là quan sát để thấy mình đang nghĩ tốt hay đang nghĩ xấu, đang làm lành hay đang làm dữ. Biết như thế rồi kềm chế việc xấu dở và nuôi dưỡng việc hay tốt. Tu là phải luôn luôn quan sát, thấy được tâm niệm hành động của mình tốt hay xấu. Nếu tốt thì chúng ta nuôi dưỡng, nếu xấu thì chúng ta tiêu diệt. 

Xa hơn nữa, nhờ quan sát như thế chúng ta thấy được nơi mình có cái gì thật, cái gì hư. Đó là bước tiến thứ hai. Quan sát lại mình rồi kết quả sẽ ra sao? “Mạc giáo mộng trung tầm tri thức, tương lai diện thượng đổ sư nhan”, đừng ở trong mộng tìm tri thức, sau này sẽ thấy mặt thầy ngay trên mặt mình. Có nhiều người mơ ước trong mộng gặp thầy tới dạy đạo cho mình. Đó là tri thức trong mộng, không phải thật, không phải chân lý. “Tương lai diện thượng đổ sư nhan”, nghĩa là sau này ngay trên mặt mình đã thấy mặt thầy rồi. Thầy ở sẵn nơi mình chớ không phải từ ngoài đến. 

Người tu Phật chân chánh phải quay lại, tìm kiếm, rèn luyện, gọt dũa chính mình chớ không trông chờ cái gì bên ngoài đến. Phật giáo Thiền tông là Phật giáo tự tánh mãnh liệt. Nhờ sức tự tánh đó chúng ta mới có thể cố gắng vươn lên và đạt được kết quả mỹ mãn. Nếu tất cả chúng ta ai cũng tự tin như thế, hiểu rõ việc nào nên làm, việc nào không nên làm, việc nào tà việc nào chánh, việc nào đúng, việc nào sai, đó là người trí tuệ văn minh. Ngược lại, ta không biết mình chỉ nghe ai bảo sao làm vậy hoặc xu hướng theo những chuyện lạ lùng bên ngoài là mất mình. Chẳng những mất mình mà còn đem tai họa đến cho mọi người nữa. 

Hôm nay chúng tôi nói sơ lược một số lợi ích của người tu theo đạo Phật, nhất là tu thiền cho  tất cả quí Phật tử thấy rõ mục đích của đạo Phật. Qua đó, chúng ta biết thế nào là lợi ích chánh, thế nào là những hiệu năng phụ của việc tu thiền. Nhờ thế mới không lầm lẫn khi áp dụng tu tập, đồng thời biết được kết quả thiết thực của việc tu Phật.

Ảnh: Internet

——————–

duongloituthien

GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LỐI TU THIỀN CỦA PHẬT GIÁO
HT. Thích Thanh Từ

A- Dẫn nhập

Tu thiền là thực hiện theo nguồn gốc của đạo Phật. Vì xưa kia, Đức Phật tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ đề mới được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là Tăng Ni, Phật tử học giáo lý của Phật thì phải đi theo con đường mà Phật đã đi, không đi con đường nào khác, dù đường ấy người thuyết giảng nói linh thiêng mầu nhiệm, chúng ta cũng không theo. Chúng ta cần phải giảng trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.

B- Nội dung

A. Thiền không phải của đạo Phật

1- Thiền chuyển luân xa:  Thiền này hành giả dẫn điện từ rốn ra sau lưng, lên đầu xuống rốn, từ rốn ra sau lưng, lên đầu xuống rốn, dẫn điện chạy vòng vòng như vậy là chuyển luân xa.

2- Thiền xuất hồn: Hành giả mở các khiếu huyệt trên thân rồi xuất hồn bay đi học đạo với các bậc thầy chưa từng biết, sau đó tự thực hành. Thiền này có hai cái hại: Cái hại thứ nhất là khi mở huyệt đạo để xuất hồn, có người mở không khéo phát điên. Cái hại thứ hai là xuất hồn bay đi học đạo, ai nói là minh sư liền theo, không giảng trạch chánh tà nên dễ bị thần linh đánh lừa.

3- Thiền thai tức: Hành giả thở vô, giữ hơi tại đan điền một lúc rồi mới thở ra, lâu ngày bụng dưới lớn dần như người nữ có thai, nên gọi là thiền thai tức.

4- Thiền luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần: Hành giả luyện tinh hóa thành khí, luyện khí hóa thành thần. Đây là lối tu tiên, đưa người đạt được thần thông du hí khắp mọi nơi.

5- Thiền Yoga hay Du già: Thiền này có nhiều cách tu, trọng tâm thiền này luyện cho cơ thể khỏe mạnh hơn là giải thoát.

Năm loại thiền kể trên thuộc thiền ngoại đạo, không phải thiền của đạo Phật.

B. Thiền của đạo Phật

Thiền của đạo Phật trọng tâm phát huy trí tuệ, phá si mê chấp ngã chấp pháp, để giải thoát sanh tử luân hồi đau khổ. Tạm chia ra: Thiền nguyên thủy, Thiền Đại thừa phát triển, Thiền tông.

I. Thiền nguyên thủy: Thiền nguyên thủy được truyền bá ở các nước: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia… Thiền nguyên thủy có rất nhiều pháp, ở đây chỉ nêu lên những pháp thường dùng.

1- Tứ niệm xứ

* Quán thân bất tịnh: Là thấy đúng như thật về thân. Quán xét thân mình từ đầu tới chân toàn là một đãy da bao bọc não, tủy, thịt, gân, xương, máu, mủ… Những món này còn nằm trong đãy da thì dễ coi một chút, nếu nó ra khỏi đãy da thì rất nhơ nhớp. Phần đầu là quý nhất, thế mà những chất tiết ra từ mắt là ghèn, từ tai là cức ráy, từ mũi là nước mũi, từ miệng là đờm dãi đều tanh hôi nhơ nhớp, ai thấy cũng gớm ghê. Thân mình và tay chân cũng như thế; chỗ nào trong thân bài tiết ra cũng đều tanh hôi nhơ nhớp, không có cái nào là sạch, là quý cả. Nếu bên trong thân sạch sẽ thì khi tiết ra có mùi thơm. Nhưng vì quá dơ bẩn nên tiết ra có mùi tanh hôi nhơ nhớp mà lúc nào chúng ta cũng ảo tưởng thân mình là đẹp, là sạch, là quý… Do si mê thấy thân lầm lẫn như thế, nên tự cao ngã mạn phát sanh bao nhiêu thứ phiền não. Do đó, Phật dạy chúng ta phải thấy đúng như thật về thân, để phá cái nhân si mê chấp ngã, dứt mầm luân hồi sanh tử.

* Quán thọ là khổ: Thọ là những cảm giác mà mình lãnh thọ. Mắt thấy hình sắc đẹp tâm ưa thích là cảm thọ lạc, thấy hình sắc xấu tâm chán ghét là cảm thọ khổ. Tai nghe âm thanh nhẹ nhàng trầm bổng vừa ý là cảm thọ lạc, nghe âm thanh nặng nề chát tai tâm bực bội là cảm thọ khổ. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Mắt thấy sắc không xấu không đẹp, tai nghe tiếng không hay không dở… tâm không ưa không ghét là cảm thọ không khổ không lạc. Thọ khổ thì thấy khổ quá rõ, còn thọ lạc tại sao lại khổ? Ví dụ lưỡi nếm thức ăn ngon là thọ lạc, nhưng thọ lạc chỉ trong phút chốc, thức ăn qua khỏi cổ là hết, hết rồi nhưng còn muốn nữa nên khổ. Cảm thọ không khổ không lạc cũng thế, có rồi mất, nó vô thường nên khổ.

Con người có hai cái chấp nặng nhất là chấp thân thật và chấp cảm giác của thân là quý, cho nên mắt đòi sắc đẹp, tai đòi âm thanh hay, mũi đòi hương thơm… Hết đòi cái này tới đòi cái kia, không có ngày dừng. Vì không thấy thọ đúng như thật, nên say đắm theo những cái ưa thích tạm bợ vô thường nên khổ. Phật dạy chúng ta biết đúng như thật những cảm thọ là vô thường, là khổ, để không đua đòi thụ hưởng thì không bị lệ thuộc với ngoại trần, được tự do giải thoát hết khổ.

* Quán tâm vô thường: Tâm người lúc nghĩ tốt lúc nghĩ xấu, lúc nghĩ chuyện mình lúc nghĩ chuyện người, nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác, không phút giây dừng nghỉ. Tâm nghĩ suy chợt khởi chợt diệt, không nhất định, luôn luôn chuyển biến vô thường. Thế mà ai cũng cho là thường, là cố định, là chân lý, người nào nghĩ khác, làm khác ý nghĩ mình là nổi giận. Vì chấp những nghĩ suy là thường, là chân lý nên cãi vã, đấu tranh, sát hại, gây đau khổ cho nhau. Do đó, Phật dạy quán tâm nghĩ suy chợt khởi chợt diệt là vô thường không thật, để không lầm chấp nó là thường là thật, mới phá được kiến chấp mình đúng, kẻ khác sai.

* Quán pháp vô ngã: Có hai cách quán.

a)- Pháp chỉ cho những niệm buồn, thương, giận, ghét… Những niệm này không có chủ thể, không cố định; khi thì buồn lúc thì vui, khi thì thương lúc thì ghét… làm cho con người rối rắm bất an. Phật dạy quán những pháp này là tướng không cố định, không có thật, để phá niệm chấp ngã về tâm.

b)- Pháp còn chỉ cho tất cả sự vật như bàn, ghế, nhà cửa, ruộng vườn… Với mắt người phàm tục thì thấy cái bàn thật, cái ghế thật… Nhưng với mắt người trí tuệ thì thấy cái bàn cái ghế không thật mà do các duyên như gỗ, đinh, công thợ… hợp lại tạm có, có một thời gian rồi hoại diệt, nên nói là vô ngã, không có chủ thể. Thân người cũng là một pháp, cũng do đất nước gió lửa hợp lại tạm có, có rồi hoại diệt.

Phật dạy quán các pháp đúng như thật của nó là vô ngã để phá chấp thân là thật, chấp tâm là thật, chấp cảnh là thật. Khi thấy thân, tâm, cảnh không thật thì hết mê muội, hết luyến ái, hết chạy theo người, chạy theo cảnh.

2- Minh sát tuệ

Hành giả dùng trí tuệ thấy rõ và theo dõi từng cử động nơi thân, hoặc những ý nghĩ khởi lên nơi tâm. Ví dụ hơi thở vô bụng phồng lên, hành giả biết và chú ý niệm thầm "phồng à". Khi thở ra bụng xẹp xuống, hành giả biết và chú ý niệm "xẹp à". Hoặc tâm khởi tưởng điều gì phải biết ngay tâm đang tưởng tượng và niệm (thầm) liền "tưởng tượng à, tưởng tượng à"… Đó là thiền Minh sát tuệ.

Người theo Phật giáo Nguyên thủy tu thiền, hoặc quán Tứ niệm xứ, hoặc ứng dụng Minh sát tuệ, hoặc quán Ngũ đình tâm. Đó là những pháp thiền người tu theo Phật giáo Nguyên thủy thường dùng.

II. Thiền Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Phát triển

Thiền Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Phát triển được truyền bá ở Trung Hoa. Đại sư Trí Khải dạy tu thiền theo Lục diệu pháp môn gốc từ Phật giáo Nguyên thủy, nhờ ứng dụng khéo thành pháp tu của Đại thừa.

1- Lục diệu pháp môn

– Sổ tức: Hành giả điều hòa hơi thở không mạnh, không gấp, yên ổn, thong thả… hít vô thở ra đếm từ một tới mười, nhiếp tâm tại số, không cho dong ruổi gọi là sổ tức. Tâm hành giả vận chuyển tự nhiên theo hơi thở với số không cần gia công, biết hơi thở rỗng nhẹ, tưởng tâm lần lần tế nhị. Khi không muốn đếm thì bỏ sổ tức tu tùy tức.

– Tùy tức: Xả pháp sổ tức, tâm nương theo hơi thở ra vào, hơi thở vào thì theo vào, hơi thở ra thì theo ra, dứt hết các duyên, ý không phân tán. Biết hơi thở ra vô là thô, muốn bỏ, khi ấy xả tùy tức tu chỉ.

– Chỉ: Dứt các duyên lự, không nhớ đếm hơi thở hay theo hơi thở, tâm ngưng lặng gọi là tu chỉ. Biết thân tâm đứng lặng vào định, không thấy tướng mạo trong ngoài, hành giả khởi nghĩ định này tuy vô vi tịch tịnh, an ổn, khoái lạc, nhưng không có trí tuệ, không thể phá hoại nhân sanh tử. Khởi nghĩ như thế, không đắm nơi chỉ mà khởi quán.

– Quán: Tâm ở trong định dùng tuệ quán tưởng hơi thở ra vào vi tế như gió trong hư không, ba mươi sáu vật trong thân không thật, như bẹ chuối; tâm thức vô thường sanh diệt, từng sát na không có ta và người, người đã không có thì định nương vào đâu? Quán như thế, biết hơi thở ra vào khắp các lỗ chân lông, tâm sáng, thấy trong thân ngoài thân đều bất tịnh, biến đổi từng sát na, tâm quán lưu động, không phải đạo chân thật. Khi ấy xả quán tu hoàn.

– Hoàn: Đã biết quán từ tâm sanh hoặc từ phân tích cảnh sanh đều không hợp bản nguyên, phải phản quán, quán lại tâm năng quán, quán tâm này từ đâu sanh, gọi là tu hoàn.

– Tịnh: Bấy giờ tâm đã thanh tịnh, không còn nương theo hơi thở, không còn quán. Đó là tịnh.

2- Tam quán

Đại sư Trí Khải còn dạy tu theo Tam quán là quán không, quán giả và quán trung. Hành giả quán tất cả pháp trên thế gian này do nhân duyên hợp mà tạm có hình tướng, tạm có tên gọi, không có thật thể, nên nói là không. Tuy là không nhưng duyên hợp thì nó giả có. Vì giả có nên quán giả. Nếu thấy được nghĩa không giả hòa hợp là quán trung.

III. Thiền tông

Sau đây là pháp tu của Thiền tông. Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa, Ngài ở chùa Thiếu Lâm, ngồi xoay mặt vào vách không tiếp người gần chín năm. Hôm ấy vào tiết mùa Đông có Thần Quang là một thiền khách đến yết kiến, thấy Tổ ngồi xoay mặt vào vách, đứng chắp tay chờ mãi, tuyết rơi lên tới gối. Tổ quay lại thấy, hỏi:

– Ngươi đến đây cầu cái gì mà chịu khổ hạnh như vậy?

Thần Quang thưa:

– Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng con.

– Diệu đạo vô thượng của chư Phật dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay, huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa!

Thần Quang nghe dạy bèn lén lấy dao chặt cánh tay đặt trước Tổ tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ biết đây là pháp khí bèn dạy:

– Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.

Qua câu chuyện, chúng ta thấy Phật pháp cao siêu tuyệt vời đưa tới giải thoát sanh tử. Người tu đạo phải quyết tâm gan dạ xem thường thân mạng mới có thể đạt được, còn tu lai rai cầm chừng thì không thể tiến được.

Sau đó, Thần Quang thưa:

– Pháp ấn của chư Phật, con có thể được nghe chăng?

– Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.

– Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.

– Ngươi đem tâm ra đây ta an cho.

Thần Quang nhìn lại tâm mình, tìm mãi không thấy ở đâu, bèn thưa:

– Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Ngay đó Thần Quang lãnh hội, biết pháp an tâm, Tổ đặt tên là Huệ Khả.

Từ lâu, ai cũng như ai đều cho cái nghĩ suy là tâm mình, nên hết nghĩ việc này, tới nghĩ việc kia, tâm lúc nào cũng loạn động bất an. Tổ bảo đem tâm ra ta an cho là bảo xoay lại tìm cái nghĩ suy lăng xăng đó ở đâu? – Khi xoay lại tìm thì nó lặng mất. Ý nghĩ lăng xăng mất ngay để tâm an. Vậy, xoay lại tìm ý nghĩ lăng xăng, thì ý nghĩ lăng xăng lặng, đó là phương pháp tu để được an tâm, để được định. Đây là phản quang tự kỷ, xoay lại soi sáng tâm mình, Tổ dạy tu một cách đơn giản, rõ ràng và thực tế, không phải chuyện xa vời không thực hiện được.

Về sau, Tổ Huệ Khả cũng dạy cho ngài Tăng Xán như thế. Một hôm có một cư sĩ đến đảnh lễ Tổ, thưa:

– Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin thầy từ bi vì đệ tử sám tội.

Tổ bảo:

– Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối.

Cư sĩ đứng sững giây lâu, thưa:

– Đệ tử tìm tội không được.

– Ta vì ngươi sám hối rồi.

Sám hối cũng là lối phản quang tự kỷ. Ở trước thì phản quang tìm tâm (vọng tưởng), bây giờ thì phản quang tìm tội.

Về sau nữa, Tổ Tăng Xán cũng dạy cho Sa di Đạo Tín như thế. Sa di Đạo Tín đến đảnh lễ Tổ, thưa:

– Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát.

Tổ hỏi:

– Ai trói buộc ngươi?

– Không ai trói buộc.

– Không ai trói buộc đâu cần cầu giải thoát?

Đạo Tín nghe liền đại ngộ.

Các Ngài ngộ đạo đều xoay lại mình tìm coi vọng niệm có thật không, nghiệp tội có thật không, sự trói buộc có thật không? Thấy tất cả đều là ảo tưởng không có thật. Thấy nó không thật là ngộ được lý Thiền. Đó là lối phản quang tự kỷ.

Từ đời Tống trở về trước, Thiền tông chưa có pháp tu khán thoại đầu. Từ đời Tống trở về sau, các Thiền sư Trung Hoa trong tông Lâm Tế thấy đa số Tăng Ni đều thông hiểu lý Thiền, nhưng không chịu tu mà chỉ nói suông, nên các Ngài dạy khán thoại đầu không cho tìm hiểu nghĩa lý để nói suông nữa.

Khán thoại đầu là pháp tu mà hành giả dồn hết tâm lực khán câu thoại đầu do vị thầy hướng dẫn đưa ra cho tới khi ngộ. Trong thời gian này không học kinh luận, ngoại trừ những buổi khai thị của vị thầy. Hiện giờ, đa số Tăng Ni và Phật tử chưa thấu suốt lý Thiền, nên chúng tôi không hướng dẫn khán thoại đầu mà phải giảng dạy cho hiểu lý Thiền, hiểu rồi mới biết đường lối tu. Đó là tùy thời tùy cảnh mà dùng phương tiện cho hợp với căn cơ của người đương thời để tu cho có kết quả tốt.

C- Kết luận

Tu thiền là một pháp tu thực tế phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại. Tâm chúng ta khởi vọng tưởng phiền não, chúng ta khéo quán thì vọng tưởng lặng, hết phiền não, tâm an định. Tu tới đâu có kết quả lợi ích tới đó, rất cụ thể, không xa vời. Vọng tưởng phiền não là cái không thật hư ảo, nơi mình sẵn có Phật tánh là cái chân thật bị vọng tưởng phiền não che khuất, bây giờ bỏ hết vọng tưởng thì Phật tánh hiện ra. Đó là những vấn đề chủ yếu của việc tu thiền./.

(Nguồn: nguyệt san Giác Ngộ số 51, 6-2000, tr 84 và Đạo Phật Ngày Nay)

————

Tham khảo: thuvienhoasen.org

Ảnh: Internet.

————

THIỀN TÔNG LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

HT Thích Thanh Từ

Hôm nay tôi sẽ nói đề tài Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Ở Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ mười chín cho đến thế kỷ hai mươi, Thiền tông gần như thất truyền. Vì vậy chúng tôi là hàng hậu bối sau này, làm sao hiểu được, nhận được đường lối tu của chư Tổ mà tu thiền. Đó là một nghi vấn không thể tránh khỏi của nhiều vị. Để giãi bày điều này, tôi xin phép được kể lại một vài nét tu tập của mình. Từ đó chúng tôi tìm ra một hướng đi theo đường lối tu của chư Tổ Việt Nam.

Trước kia chúng tôi thường giảng dạy cho Tăng Ni các trường Phật học và Phật tử ở các tỉnh. Nhưng đến năm 1968 tôi nhất định đóng cửa thất tu. Năm 1961 chúng tôi đã dịch cuốn “Lục Diệu Pháp Môn” của Tổ Trí Khải, cho nên giai đoạn đầu tu thiền chúng tôi tu theo hướng của Ngài. Lục diệu pháp môn là một pháp tu rất phù hợp với lời Phật dạy trong kinh. Vì vậy những năm tuy còn giảng dạy ở trường, chúng tôi vẫn tập tu theo pháp môn đó.

Tới năm 1966 tôi nghỉ dạy ở Phật học viện Huệ Nghiêm, lên núi cất thất chuyên tu. Lúc đó, tôi đọc rất nhiều lần sử ba mươi ba vị Tổ từ Ấn Độ đến Trung Hoa sang Việt Nam, nhất là đọc sử Tổ Trung Hoa. Tôi đọc qua đoạn sử Tổ Huệ Khả đến cầu pháp với Tổ Bồ-đề-đạt-ma, sau thời gian tha thiết xin thọ giáo, được Tổ Bồ-đề-đạt-ma nhận làm đồ đệ. Một hôm Ngài thưa với Tổ Đạt-ma:

– Bạch Hòa thượng, tâm con không an xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.

Lời thưa hỏi rất thật thà, rất chí lý. Nhưng Tổ Đạt-ma bảo:

– Đem tâm ra ta an cho.

Tổ Huệ Khả ngạc nhiên quá, không ngờ lại có một câu dạy lạ lùng như vậy. Ngài quay lại tìm, không thấy tâm bất an ấy ở đâu, nên Ngài thưa:

– Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

Tổ bảo:

– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Ngay đó Tổ Huệ Khả liền biết được đường vào. Đọc ngang đó tôi lắc đầu. Tại sao tâm rối loạn cầu dạy pháp an tâm, mà Tổ không dạy gì hết. Khi Tổ Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ Đạt-ma lại nói đã an tâm cho rồi. Như vậy an bằng cách nào, chỗ nào? Đó là vấn đề trước kia chúng tôi đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn không hiểu, cứ ngỡ như Tổ đùa cợt chơi thôi.

Mãi tới năm 1968 tôi nhập thất. Trong thất tôi mới lục lại bộ “Ba Mươi Ba Vị Tổ” đọc thật kỹ. Đọc đến chỗ Tổ Huệ Khả xoay lại tìm không thấy tâm, thưa rằng con tìm tâm không được, Tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”, bỗng dưng tôi thấy được đường vào của Tổ Huệ Khả. Từ đó tôi mới chuyên tâm tu theo Thiền tông.

Khi Tổ Huệ Khả xoay lại tìm tâm của mình xem nó ở đâu, tìm không thấy tức là nó đã lặng, mà nó lặng là đã an rồi. Vì vậy nghe ngài Huệ Khả thưa con tìm tâm không được, Tổ bảo ta đã an tâm cho ngươi rồi. Vậy đường hướng Tổ Đạt-ma dạy Tổ Huệ Khả là gì? Tức dạy phản quan nhìn lại tâm của mình. Lâu nay tâm ấy đang chạy nhảy lung tung nên nói “tâm viên ý mã”, như khỉ như vượn. Tìm lại nó mất hình mất dạng, như vậy tâm đó thật hay không?

Tất cả chúng ta lâu nay quen cho rằng cái suy nghĩ, tính toán là tâm mình nên khi ngồi lại tu, nó chạy tứ tung kềm không được. Bởi kềm không được nên xin pháp này pháp nọ để an tâm. Giờ đây chúng ta phản quan nhìn lại, tìm coi nó ra sao thì tự nhiên nó mất. Đường hướng của Tổ Đạt-ma chỉ dạy hết sức rõ ràng, bảo mình phải xoay lại tìm xem tâm bất an ra sao, thì nó tiêu tan không còn hình bóng tức được an tâm. An tâm mà không có phương pháp, chỉ dùng trí quán chiếu lại tâm hư dối thì nó mất, đó là an tâm.

Thời gian lâu sau, Tổ Huệ Khả thưa với Tổ Đạt-ma:

– Nay con đã dứt hết các duyên.

Tổ Đạt-ma bảo:

– Coi chừng rơi vào không.

Tổ Huệ Khả thưa:

– Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

Tổ Đạt-ma bảo:

– Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế.

Đó là Tổ Đạt-ma đã truyền tâm ấn cho Tổ Huệ Khả. Tại sao nói truyền tâm ấn? Vì tâm người đệ tử đến được chỗ đúng như tâm thầy, tâm Phật nên lấy tâm ấn tâm. Chữ ấn là in, tâm của Phật của thầy thế nào, tâm của mình cũng như vậy. Đó là tâm tâm hợp nhau nên gọi truyền tâm ấn. Giống như dấu ấn in vào giấy trắng, con dấu có chữ gì thì trên giấy cũng có chữ đó. Như vậy chúng ta mới thấy tinh thần truyền tâm ấn của nhà Phật, nói truyền mà thật ra không có gì để truyền, chỉ là thừa nhận chỗ thấy của người trò đúng với chỗ thấy của thầy, của chư Phật.

Chúng ta nghiền ngẫm xem pháp tu đó của Thiền tông có hợp với giáo lý của chư Phật không? Nhiều người nghĩ rằng Thiền tông nói làm lạ quá, dường như không hợp với kinh điển Phật. Nhưng thật sự tất cả phương pháp Phật dạy đều là phản quan tự kỷ hết. Như trong kinh Tứ Niệm Xứ, Phật dạy chúng ta quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã tức là xoay lại thân tâm này, thấy cho tường tận, hiểu cho rõ ràng. Tới Ngũ đình tâm quán cũng vậy, pháp nào cũng phản quan hết.

Gần nhất là kinh Bát-nhã chúng ta tụng hằng đêm. Chỉ một câu đầu thôi chúng ta cũng thấy hay đáo để “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là Bồ-tát Quán Tự Tại khi thực hành sâu trí Bát-nhã, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết các khổ nạn. Tăng Ni Phật tử đọc kinh Bát-nhã từ xưa đến giờ biết bao nhiêu biến, có qua hết khổ nạn chưa? Tụng thì tụng mà khổ nạn vẫn chưa hết. Qua đó thấy rằng chúng ta tụng Bát-nhã mà không quán chiếu Bát-nhã. Quán chiếu Bát-nhã là sao? Là quán chiếu năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, tánh nó rỗng không; được thế mọi khổ ách đều qua hết. Như vậy có phải phản quan không?

Kinh A-hàm dạy phản quan, kinh Bát-nhã cũng dạy phản quan, nghĩa là phải quán chiếu ngược trở lại thì chúng ta mới thấy đạo. Nhưng rất tiếc lâu nay Phật tử học đạo lại có những lầm lẫn như nói Bát-nhã là Bổ Khuyết Tâm Kinh, tức kinh bù lại những gì thiếu sót trong khi chúng ta tụng đọc. Đâu phải thế, kinh Bát-nhã là trí tuệ, mà trí tuệ là gốc của đạo Phật.

Đạo Phật lúc nào cũng dạy chúng ta mở sáng trí tuệ, thấy đúng chân lý. Dù tu Tịnh độ hay tu Thiền tu Mật, tu pháp môn nào cũng phải lấy Bát-nhã làm nền tảng. Cho nên người tụng kinh Di-đà, sau cùng cũng tụng Bát-nhã. Chúng tôi tu Thiền cũng tụng Bát-nhã, quí vị tu Mật cũng tụng Bát-nhã. Rõ ràng Bát-nhã là trí tuệ, là gốc của đạo. Tu cần phải có trí tuệ, nên trong kinh dạy chúng ta phải quán chiếu ngũ uẩn, tức soi sáng lại thân năm uẩn này không thật. Thấy thân năm uẩn không thật thì khổ ách không còn. Nếu chúng ta không chịu quán chiếu thì tụng bao lâu, khổ cũng chưa hết.

Ngài Thái Hư giảng Bát-nhã có ba: một là Văn tự Bát-nhã, hai là Quán chiếu Bát-nhã, ba là Thật tướng Bát-nhã. Văn tự Bát-nhã dụ như chiếc thuyền, Quán chiếu Bát-nhã như chèo dầm để bơi, Thật tướng Bát-nhã như đến bờ bên kia. Nếu người xuống thuyền muốn qua bờ bên kia, trước hết phải nhờ chiếc thuyền, đó là Văn tự Bát-nhã. Kế tiếp phải bơi chèo mới qua tới bờ bên kia, đó là Quán chiếu Bát-nhã. Đến được bờ bên kia rồi, đó là Thật tướng Bát-nhã.

Ngày nay chúng ta tu có chặng đầu thôi, tức là chỉ có Văn tự Bát-nhã mà không có Quán chiếu Bát-nhã. Thử hỏi kẻ muốn qua sông, bước xuống thuyền rồi, cứ ngồi trên đó hoài, thì chừng nào tới được bờ kia? Ngồi đến thuyền mục cũng không tới. Muốn qua được thì phải bơi, phải chèo đó là Quán chiếu.

Như vậy tu Phật, quan trọng nhất là dùng trí tuệ chiếu soi lại chính mình. Từ chư Phật đến chư Tổ đều như vậy, nên tôi nói Thiền tông là cội gốc của đạo Phật. Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe kinh Kim Cang một đoạn liền tỉnh. Sau tìm tới Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, ở đó tu học cuối cùng được Tổ cho vào thất và giảng kinh Kim Cang. Đến câu: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền ngộ đạo và thốt lên rằng: “Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt v.v…” Từ đó Ngũ Tổ mới truyền y bát cho và dạy đi về phương Nam.

Kinh Kim Cang dạy “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”, nghĩa là những gì có hình có tướng đều là hư dối, nếu thấy các tướng không phải tướng, đó là thấy được Phật. Mọi pháp trên thế gian đều do nhân duyên hòa hợp, cũng do nhân duyên mà ly tán nên nó tạm bợ, giả dối. Biết rõ như vậy là có trí tuệ, là thấy Phật.

Cũng trong kinh Kim Cang, hai câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề: “Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao hàng phục tâm, làm sao an trụ tâm?”, đức Phật giải thích về an trụ tâm thế này: “Muốn an trụ tâm thì đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không dính, không kẹt. Nên không có chỗ dính kẹt mà an tâm.” Như vậy không chạy theo sáu trần là an tâm.

Tâm chúng ta luôn chạy theo sắc, thanh, hương… như keo sơn. Vì vậy cứ chứa chấp bóng dáng hình ảnh trong lòng. Ví dụ ra đường thấy một người có tật nguyền kỳ quái hoặc một người đẹp tuyệt trần. Về nhà liền nhớ lại hình ảnh đó. Hình ảnh đó là pháp trần, đã dính chặt trong tâm mình. Nên khi tụng kinh, niệm Phật, toạ Thiền nó hiện lên hoài. Nhưng những bóng dáng ấy không thật nên nhìn lại nó liền tan biến, tâm liền an.

Như vậy muốn được an chúng ta không cho tâm đuổi theo sáu trần bên ngoài. Tâm an mới biết được chỗ Lục Tổ nói: “Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh. Đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt…” Chúng ta có sẵn tâm an tịnh trong sạch, không sanh không diệt mà quên thành như không có. Cứ chạy theo tâm hư dối rồi tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử. Bây giờ dừng tâm ấy lại, quay về Tâm chân thật, thì chấm dứt luân hồi sanh tử thôi.

Nhận ra chỗ đó rồi, Ngũ Tổ liền đưa Lục Tổ qua sông trở về phương Nam. Khi qua sông đi được một đoạn đường, có người đuổi theo giành lại y bát, trong đó có Thượng tọa Minh đuổi theo kịp. Tổ thấy thế liền nghĩ y bát là vật ấn chứng, chớ không phải tầm thường, nên Ngài để y bát trên bàn thạch, trốn vô lùm cây. Thượng tọa Minh đến, thấy y bát mừng quá tới ôm lên, nhưng ôm không được. Hoảng quá, ông đổi tâm giành y bát thành tâm cầu pháp, mới thưa vào trong: “Hành giả, hành giả, tôi đến đây vì pháp chớ không phải vì y bát.” Lục Tổ nghe thế bước ra bảo: “Nếu ông muốn cầu pháp thì đứng yên lặng giây lâu, ta sẽ nói cho.” Thượng tọa Minh yên lặng giây lâu, Tổ liền bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Ngay đó Thượng tọa Minh liền ngộ, nhận được Bản lai diện mục của mình.

Bản lai diện mục là gì? Bản là xưa, lai là nay, diện mục là mặt mày. Bản lai diện mục là mặt mày thật xưa nay. Bản lai diện mục là tên khác của Chân tâm, của Phật tánh. Khi không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay đó là Bản lai diện mục rồi. Không nghĩ ác thì chúng ta đồng ý, nhưng nghĩ lành nghĩ thiện là tốt, tại sao không cho? Bởi vì chỗ cứu kính chân thật đó không cho nghĩ, còn nghĩ lành cũng là nghĩ. Khởi nghĩ là khởi niệm, khởi niệm là vọng động nên mất cái chân thật của mình. Cả hai thứ dừng lại thì cái chân thật mới hiện bày.

Nghĩ thiện nghĩ ác, nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ tốt nghĩ xấu, tất cả nghĩ hai bên đều phải lặng xuống, dừng lại thì cái chân thật hiện tiền. Một bài pháp hết sức đơn giản, hết sức là thực tế mà lâu nay chúng ta nghe thì nghe chớ không hiểu.

Trong kinh Phật dạy chúng sanh luân hồi trong lục đạo: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời. Chúng ta nghĩ ác thì đi xuống ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nghĩ lành thì đi lên ba đường lành người, a-tu-la, trời. Đi lên hay đi xuống cũng đều luân hồi trong lục đạo, hoặc xấu hoặc tốt. Nếu chúng ta không còn khởi nghĩ đó thì đi đâu? Không nghĩ thì không tạo nghiệp, tâm trong sạch thì giải thoát sanh tử, còn muốn hỏi đi đâu!

Như vậy chúng ta thấy Thiền tông dạy rất kỹ. Rõ ràng cội gốc của luân hồi sanh tử là do ý nghiệp dấy lên, rồi khẩu nghiệp phát ra, thân nghiệp hành động. Ý, khẩu và thân ba cái đó hoạt động tạo ra nghiệp. Nếu tu Thiền thì không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Niệm Phật tới nhất tâm hay vô niệm cũng không còn hai thứ. Vì vậy Thiền tông, Tịnh độ tông v.v… cuối cùng đều gặp nhau, nhưng trong lúc tu hành, chỗ ứng dụng có sai biệt.

Tất cả những nghĩ tưởng đều kẹt hai bên. Mở miệng nói là hai bên, cho nên trong nhà Thiền có những chuyện kỳ quái, người ta không hiểu cho là lạ lùng. Như ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền học đạo với Thiền sư Hoàng Bá. Học cả năm trời, mà Ngài không hỏi một câu nào hết. Thủ tọa là Trần Tôn Túc thấy vậy mới gọi:

– Sư huynh tới đây học thiền, sao không hỏi Hòa thượng câu gì hết?

Ngài Lâm Tế thưa:

– Tôi không biết hỏi câu gì bây giờ?

Thủ Tọa dạy:

– Ông nên hỏi Hòa thượng: ‘Thế nào là đại ý Phật pháp?”

Ngài Lâm Tế nghe liền đắp y đảnh lễ Hòa thượng và hỏi:

– Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?

Ngài Hoàng Bá cầm gậy đập cho một gậy, đuổi đi xuống. Lần thứ hai, Thủ tọa thúc:

– Huynh lên hỏi nữa đi.

Ngài cũng đắp y lên hỏi:

– Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?

Ngài Hoàng Bá đập cho một gậy nữa, đuổi xuống. Lần thứ ba, Thủ tọa xúi lên hỏi một lần nữa. Ngài chần chừ nhưng cũng ráng đi. Đắp y đàng hoàng, Ngài hỏi:

– Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?

Tổ Hoàng Bá đập cho một gậy nữa, không dạy lời nào hết.

Chúng ta thấy có tàn nhẫn quá không? Đi hỏi đạo mà ba lần ăn gậy. Bây giờ chúng ta chỉ cần một bạt tai thôi, là cằn nhằn la lối không biết tới đâu. Đằng này ba lần bị đánh bằng gậy, mà Ngài vẫn kiên nhẫn chịu đựng. Tới lần thứ ba Ngài khóc, hết chịu nổi nên cuốn gói đi. Khi sắp đi, Thủ tọa hỏi:

– Huynh tính đi đâu?

Ngài đáp:

– Tôi cũng không biết đi đâu, nhưng không có duyên ở đây, phải đi vậy thôi.

Thủ tọa bảo:

– Huynh lên trình với Hòa thượng rồi hãy đi.

Nghe lời, Ngài lên trình: 

– Bạch Hòa thượng, con xin đi nơi khác vì không đủ duyên ở đây.

Tổ Hoàng Bá hỏi:

– Ông định đi đâu?

Ngài thưa:

– Dạ con cũng không biết đi đâu. Vì không có duyên ở đây thì con đi thôi.

Tổ Hoàng Bá bảo:

– Ông nên đến chỗ Đại Ngu.

Khi tới núi Đại Ngu, Thiền sư Đại Ngu hỏi:

– Ông từ đâu đến?

Ngài thưa:

– Bạch Hòa thượng, con từ chỗ Hoàng Bá đến.

– Hoàng Bá đã dạy gì cho ông?

– Bạch Hòa thượng, con hỏi “thế nào là đại ý Phật pháp?”, mỗi lần hỏi đều ăn gậy, tới ba lần như vậy. Con không biết có lỗi lầm gì?

Ngay đó ngài Đại Ngu liền nói:

– Hoàng Bá thật là tâm lão bà, chỉ tột cùng cho ông mà ông không thấy còn hỏi có lỗi, không lỗi.

Ngay đó Ngài đại ngộ, liền nói:

– Phật pháp Hoàng Bá rất ít.

Nghe câu đó ngài Đại Ngu chụp vai hỏi:

– Khi nãy ông nói có lỗi không lỗi, bây giờ thấy gì mà nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít?

Ngài thoi vào hông ngài Đại Ngu một thoi. Đại Ngu đẩy ra bảo:

– Thầy của ông là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì đến ta.

Chúng ta thấy ngày xưa Tổ sư dạy thiền giống như trường thí võ vậy, đánh bằng gậy, thoi bằng tay. Vì vậy người thời nay lấy làm lạ quá, không biết dạy cái gì kỳ quái, cho nên có người nói Thiền tông là quái thai của Phật giáo. Sự thật vì họ không hiểu, chớ hiểu rồi mới thấy cái hay của người xưa.

Tôi chỉ điểm hay đó cho quí vị thấy. Tại sao ba lần ngài Lâm Tế hỏi, ba lần Tổ Hoàng Bá đánh, mà ngài Đại Ngu lại nói Hoàng Bá tâm lão bà, vì ông chỉ chỗ tột cùng mà ông còn nghi có lỗi không lỗi. Chỉ chỗ tột cùng là chỗ nào? Hỏi đại ý Phật pháp tức là chỗ trọng tâm, chỗ tột cùng của Phật pháp, chỗ đó làm sao? Bởi chỗ ấy không còn hai bên, mà vừa khởi hỏi là đã hai bên rồi, cho nên ăn gậy. Nếu Ngài trả lời cái gì thì cũng rơi vào hai bên, nên chỉ có đập.

Nhưng ngài Lâm Tế không nhận được ý này. Chờ tới chỗ ngài Đại Ngu, ngài Đại Ngu nói: Hoàng Bá thương ông như mẹ thương con, chỉ chỗ tột cùng cho ông mà ông còn nghĩ có lỗi không lỗi. Nghĩ có lỗi không lỗi là hai bên. Vừa nói tới đó Lâm Tế trực nhận chỗ tột cùng không còn hai bên. Đó là đại ý của Phật pháp, tức thì Ngài ngộ đạo. Khi Đại Ngu hỏi ông thấy đạo lý gì mà nói thế, Lâm Tế biết mở miệng trả lời là hai bên, nên thoi một thoi, đó là cách trả lời đầy đủ nhất.

Người mới đọc sử Thiền lấy làm lạ lắm, không thể nào hiểu nổi. Nhưng hiểu rồi mới thấy lý sâu thẳm bên trong. Vì vậy tông Lâm Tế truyền mãi cho tới các Tổ Việt Nam cả ngàn năm, vẫn không mất ý nghĩa sâu thẳm đó.

Thiền là dừng cả hai bên, ngay đó là Bản lai diện mục của mình. Dừng hai bên là hết nghiệp, hết nghiệp là giải thoát sanh tử, rõ ràng như vậy. Khi chúng ta hiểu được lý Thiền rồi, mới hiểu được các thủ thuật kỳ đặc của chư Tổ, đó không là quái thai Phật giáo như người ta tưởng, mà là hiện thực sống động lý thú vô cùng. Chúng ta đọc kinh nhiều quá, cứ tìm hiểu với tánh cách triết lý, nên không thấy được Bản lai diện mục của mình. Còn Tổ chỉ thẳng vì vậy mà dễ thấy. Cho nên Kinh và Thiền không khác, đều cốt chỉ dạy chúng ta dừng tâm xao xuyến loạn động. Lặng hết, không còn một niệm hai bên, đó là chỗ tột cùng.

Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng Phật giáo Thiền tông từ thế kỷ thứ sáu mãi đến thế kỷ thứ mười chín, hơn một ngàn năm. Nếu ra Bắc hay Trung, chúng ta thấy chùa nào cũng nhận là kế thừa tông Lâm Tế hoặc tông Tào Động. Thiền tông truyền sang Việt Nam ngót một ngàn năm, thế mà tới ngày nay còn không? Như vậy Thiền tông truyền thừa đến Việt Nam cả ngàn năm, nhưng nhìn lại chỉ đời Lý, đời Trần có vẻ gần gũi, nên chúng tôi đặt trọng tâm vào việc khôi phục Thiền tông đời Trần.

Có những lý do mà tôi muốn khôi phục Thiền tông đời Trần.

Thứ nhất đức Phật mà chúng ta lễ lạy mỗi đêm là một Hoàng thái tử ở Ấn Độ đi tu. Ngài từ bỏ kế thừa ngai vàng, bỏ tất cả những hạnh phúc thế gian để tìm đạo. Khi Ngài tìm được đạo rồi Ngài đem ra giảng dạy cho người sau. Con đường của Ngài quả là siêu thoát, vượt tất cả phàm trần. Thế mà bây giờ có nhiều khi chúng ta bị kết tội làm nghề thầy chùa, thật đáng buồn. Tại sao?

Bởi vì thầy được Phật tử mời tới cúng tuần, cúng giỗ rồi Phật tử cúng lại tiền. Người tu thấy việc ấy rất bình thường, nhưng với con mắt thế gian người ta thấy có sự trao đổi trong đó. Vì thế chúng tôi muốn làm sao Tăng Ni Phật tử Việt Nam phải là những người cao thượng siêu thoát chớ không tầm thường như vậy. Bởi chúng ta là đệ tử Phật, đi theo con đường Phật đã đi, mà con đường Phật đi là con đường siêu xuất thế gian, chớ đâu tầm thường như vậy được.

Do đó chúng tôi lấy tinh thần đời Trần làm gốc. Vì sao? Vì đời Trần chúng ta cũng có một vị Vua đi tu. Ngài cũng từ bỏ ngai vàng, sách sử ghi lại vua Trần Nhân Tông xem ngai vàng như dép rách, tức Ngài từ bỏ một cách không nuối tiếc, đủ biết Phật giáo với cái nhìn của các ngài cao siêu tới đâu. Tất cả những thứ tầm thường của thế gian, như địa vị danh vọng tiền của v.v… không gì quí bằng đạo, vì thế Ngài mới đi tu.

Giờ đây chúng ta nương theo tinh thần cao thượng của người xưa để xứng đáng là con cháu trong nhà Thiền. Người xưa đã thế thì chúng ta cũng phải cố gắng như vậy. Do đó tôi lấy tinh thần Thiền tông đời Trần làm tiêu chuẩn, để khuyến khích chư Tăng Ni tu phải cao thượng giống như người xưa. Đó là lý do thứ nhất.

Thứ hai là thời Trần không chỉ người xuất gia tu mới ngộ đạo mà kể cả cư sĩ tu cũng ngộ đạo như thường. Đó là hình ảnh Tuệ Trung Thượng Sĩ, một cư sĩ ngộ được lý Thiền. Khi sắp tịch Ngài nằm ngựa giữa, tỳ thiếp vây quanh khóc lóc. Một hồi Ngài mở mắt ra bảo lấy nước súc miệng. Súc miệng xong, Ngài ngồi dậy quở: “Ta đi có nơi về có chốn, tại sao các ngươi làm nhiễu loạn Chân tánh của ta?” Nói rồi, Ngài nằm xuống nhắm mắt đi. Mọi người im lặng, không ai dám làm kinh động nữa.

Chúng ta mới thấy Phật giáo đời Trần là Phật giáo bình đẳng trong sự tu chứng, hàng xuất gia cũng như tại gia tu đều có thể ngộ đạo hết. Cho nên tôi lấy đó làm tiêu chuẩn cho tất cả Tăng Ni tu, đồng thời khuyến khích Phật tử cùng tu, không bỏ một ai. Ở Trung Hoa có ông Bàng Long Uẩn, một cư sĩ tu Thiền ngộ đạo, cả nhà chết một cách tự tại. Việt Nam chúng ta cũng có một cư sĩ sanh tử tự do. Như vậy để chúng ta tự vui rằng, nơi khác có người tu hay, ở Việt Nam cũng có những người tu tốt. Đó là chỗ quan trọng mà chúng tôi chú ý.

Nói tới Thiền tông Việt Nam, nhất là Thiền tông đời Trần ta không thể không nhắc tới Tuệ Trung Thượng Sĩ. Vì Tuệ Trung Thượng Sĩ là thầy của Thái tử Trần Khâm, tức vua Trần Nhân Tông sau này. Một hôm, Thái tử hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ:

– Bạch Thượng Sĩ, thế nào là chủ yếu của người tu thiền?

Thượng Sĩ đọc một câu chữ Hán:

– Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.

Nghĩa câu ấy là quay lại soi sáng mình đó là phận sự chánh, không phải từ ngoài mà được. Như vậy phản quan tự kỷ đúng với tinh thần thiền mà Tổ Đạt-ma đã truyền cho Tổ Huệ Khả. Các kinh Phật cũng dạy người tu phải quay lại mình chớ không cầu nơi khác. Thái tử Trần Khâm lãnh hội được yếu chỉ đó, trở về lên ngôi Vua cũng lấy đó làm phương châm cho việc đời việc đạo. Khi hoàn thành trọng trách đối với đất nước dân tộc, Ngài nhường ngôi lại cho con rồi đi tu. Thế là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời và Ngài là Sơ Tổ Trúc Lâm.

Ngài có làm bài phú Cư Trần Lạc Đạo, bài phú kết thúc bằng bốn câu thơ:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc san hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Tạm dịch:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên tức là ở trong cõi trần muốn vui với đạo phải tùy duyên. Tùy duyên là sao? Đói đến thì ăn mệt ngủ liền. Có người nào đói mà không ăn, mệt mà không ngủ đâu. Nhưng thật sự câu này rất khó làm đúng như ý nghĩa của nó. Có một Thiền sư tu trên núi nhiều năm, khi xuống núi có người hỏi:

– Ngài ở núi làm những việc gì?

Ngài nói:

– Đói ăn mệt ngủ.

Người kia thưa:

– Việc đó tôi làm cũng được.

Ngài nói:

– Tuy vậy mà không được.

– Tại sao?

– Bởi vì người đời đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ, còn ta thật sự đói ăn mệt ngủ.

Điều này đối với thế gian quả thật không đơn giản. Mỗi bữa ăn phải có một cốc rượu, nếu không có rượu thì không chịu ăn. Hoặc trên mâm cơm phải có ớt, bữa nào thiếu ớt là ăn không ngon. Đó là chưa kể những người khó tánh, bữa nào dọn cơm không vừa ý, chẳng những không ăn mà còn cằn nhằn nặng nhẹ nữa. Như vậy đói có chịu ăn đâu. Đến ngủ, mệt có chịu ngủ chưa? Hay nằm xuống nhớ chuyện hôm qua hôm kia, chuyện năm trên năm dưới, nhớ lăng xăng cả nửa giờ mới ngủ được. Đó là mệt không chịu ngủ. Như vậy là chưa tùy duyên.

Tùy duyên là đói đến có cái gì ăn cái nấy, mệt nằm ở đâu ngủ cũng ngon. Đó mới gọi là tùy duyên. Nói đói ăn mệt ngủ không phải chỉ thế thôi, nghĩa là chúng ta xử sự mọi việc đến với mình, không phải suy đi tính lại nhiều lần. Cái gì đến giải quyết liền, không suy nghĩ tính toán, mất thời giờ.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, nghĩa là trong nhà có hòn ngọc sẵn, chớ tìm kiếm ở đâu xa. Chúng ta ngỡ rằng tu muốn thành Phật phải lên non, lên rừng mới được. Nhưng Phật ở đâu? Trong nhà Thiền thường nói “cõng Phật đi tìm Phật” hay “cỡi trâu tìm trâu”. Phật chính ngay nơi tâm mình. Ngay tâm không sanh diệt là tánh Phật của chúng ta. Ai cũng có nhưng vì vọng tưởng phiền não che lấp nên không thấy. Bây giờ lặng hết những thứ khuất lấp, tự nhiên nó hiện tiền, không nghi ngờ.

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Đối cảnh tức là mắt tai mũi lưỡi thân, tiếp xúc với năm trần sắc thanh hương vị xúc, đừng dính đừng mắc thì hỏi chi Thiền, bởi vì ngay đó là Thiền rồi, đúng như chỗ Lục Tổ ngộ trong kinh Kim Cang “Bất ưng trụ sắc sanh tâm…”. Chúng ta thấy hệ thống Thiền từ cổ chí kim không hai, nhưng phương tiện truyền bá chỉ dạy có khác. Cho nên Thiền tông là gốc của đạo Phật, không nghi.

Trong kinh Lăng Nghiêm khi ngài A-nan hỏi Phật:

– Bạch Thế Tôn, cái gì là cội gốc của phiền não luân hồi? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?

Lúc đó đức Phật Thích-ca không trả lời, nhưng mười phương chư Phật “dị khẩu đồng âm” đều xướng lên rằng:

– Này A-nan, cội gốc phiền não luân hồi sanh tử là sáu căn của ông, cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông.

Cho nên đối cảnh vô tâm là sáu căn đối với sáu trần không dính không mắc, đó là Thiền, là cội gốc giải thoát Bồ-đề, chớ có gì lạ. Như vậy tu Thiền đâu khác với những gì Phật dạy.

Chúng tôi hiện giờ dạy tu như thế nào? Với tinh thần phản quan tự kỷ hay tinh thần của Tổ Huệ Khả, nhìn lại tâm mình biết nó hư dối, tự tan biến đó là an tâm. Vì vậy Thiền sư Vô Nghiệp khi được hỏi câu gì, Ngài đều trả lời “Chớ vọng tưởng!” Giờ đây chúng tôi dạy Phật tử cũng như Tăng Ni tu phải nhìn lại tâm của mình. Nếu ngồi Thiền vừa thấy nó dấy lên thì nói vọng tưởng không theo, như vậy mà buông xả. Đó là trong thời gian toạ thiền ban đầu.

Khi ứng dụng bên ngoài, làm việc gì hay đi đâu chúng ta cũng đừng để dính mắc với các trần cảnh. Nhưng nhiều Phật tử nói, con làm ngành này, ngành kia mà bảo vô tâm sao được. Tôi nói không khó, vô tâm ở trường hợp nào, còn trường hợp nào không vô tâm. Thí dụ người làm kế toán phải tính việc này, việc nọ nhưng nếu khéo tu, làm việc gì chỉ chú tâm vào việc đó, không cho một niệm khác chen vào. Tuy rằng chưa được vô tâm, nhưng chính lúc đó đã giảm loạn tưởng. Nếu khá hơn thì trong việc làm ví dụ lái xe, ta cứ ngó thẳng, không suy nghĩ, không lo ra việc khác, đó là tu rồi.

Chúng ta thường có bệnh lo ra, đang làm việc này lại nghĩ việc kia, cho nên tâm lộn xộn không làm chủ được. Khi đặt mình trong một hoàn cảnh nào, làm một việc gì thì chú tâm vào đó, vừa nghĩ khác là bỏ, đó là khéo tu. Tuy rằng chưa vô tâm trọn vẹn, nhưng chúng ta đã gạn lọc được những niệm không ích lợi, làm chủ không để nó lôi. Như thế có mất mình đâu, đó là cách tu trong bận rộn. Dần dần chúng ta làm chủ được trọn vẹn, mới vô tâm đối với sáu trần, chớ không tập từng bước thì tu không thể tiến được.

Đường lối tu Thiền là đường lối của Phật Tổ dạy, không phải ai tự đặt riêng. Chỉ khác ở thủ thuật độ người của chư Tổ thôi, nếu hiểu một ngài tức là hiểu tất cả, còn không hiểu thì đọc hoài cũng không biết gì. Chúng tôi nghĩ rằng, tất cả chúng ta hữu duyên với Phật, với Tổ nên ngày nay mới được học những lời Phật Tổ còn ghi chép lại. Nếu chịu khó nghiền ngẫm ứng dụng tu, nhất định chúng ta sẽ lãnh hội được thâm ý của các ngài. Theo đó tu tiến thì chắc chắn sẽ được an lạc giải thoát.

Mong tất cả chúng ta cố gắng thực hành, để đời mình hết khổ và giúp người hết khổ. Được vậy trên đường tu tiến chúng ta xứng đáng là đệ tử Phật.

————

Nguồn: thuong-chieu.org

Advertisements

19 phản hồi

  1. bạn ui, việc học thiền phải có thiền sư hướng dẫn, v ì tự thiền có thể sai phương pháp. Bạn học thiền ở đâu vậy?

  2. Ồ, một bất ngờ lớn, xin chào bạn Iu Đời !
    Tâm Thiền tự học theo băng hướng dẫn của thầy Thích Thanh Từ và nhiều thầy khác nữa, đều trên sách vở, băng từ, hình ảnh tải từ mạng về. Thấy cũng hiệu nghiệm, nhẹ nhàng, bớt nóng giận, ít nhất cũng lợi lạc cho mình đấy bạn à
    Mong được tiếp chuyện với bạn những lần sau
    Chúc bạn ngày an lành 🙂

  3. cám ơn bạn! Mong được bạn chia sẻ và chỉ bảo thêm!

  4. Bạn dùng từ chỉ bảo nghe sang quá, mình học hỏi nhau bạn nhé, chia sẻ để biết thêm nhiều tuyệt chiêu đối phó với cuộc sống căng thẳng 🙂

  5. Lợi ích của Thiền thì tự bản thân mình thấy từ mình là :

    – Kềm chế được những cơn nóng giận.

    – Tăng trưởng lòng từ bi

    – Có vụ sợ chết thì bớt đi nhiều rồi, chỉ sợ ko đủ thời gian để tu tập thui à. 🙂

    – Tự kiểm sóat được mình làm gì. Biết được mình đang làm gì (giảm bớt sự tác động của ngọai cảnh).

    Ko biết còn lợi lạc gì thêm ko thì để mình tiếp tục tu tập rồi mình sẽ kể tiếp.

  6. Chắn cũng phải nhiều lắm lắm, như ăn được ngủ được tinh thần phơi phới sảng khoái có ngày sẽ thành tiên, à mà phải là thẳng tiến thành Phật chứ, thành tiên vẫn còn chên chết 🙂

  7. Lạ thật, một niệm là Phật thì một niệm lại là chúng sanh. Chẳng biết khi nào vô niệm đây.

  8. Chớp mắt một cái có thể vô niệm, TT khi bức xúc việc gì đó cũng thường chớp chớp vài chập tự dưng thấy bình tâm rỗng niệm trở lại.

  9. o sai gon co diem nao hoc thuyen hok ban

  10. Mình cũng không rõ, có lẽ bạn tìm hiểu tại điểm chùa mà bạn thường đến.

  11. Hàng vạn vạn trang đã “nói về ” Thiền.
    Nói nữa cũng chẳng thể hết ý!
    Có một vấn đề là : Quan niệm Thiền ngày càng lệch xa khỏi ý của Thầy Tổ.
    Thầy Tổ Thiền là ai?
    Là Phật? Chưa hẳn!?
    Phật chỉ Tham Quán!
    Thế có Thiền trong Đi – Đứng – Nằm – Ngồi… phải không?
    Cả trong bửa củi, nấu cơm lái xe, bắn tên, chơi bài … đúng không?
    Thế thì …
    Thiền là SỐNG phải không?
    Vậy thì hãy sống đi ! Bỏ thì giờ ra nhiều vào…
    Luận bàn về Thiền chi cho phí thời gian là hạn hữu!

  12. Luận bàn với bản thân, một ngày nhìn lại…

  13. cầu chúc Tâm Thiền thân lạc tâm an

    • Tâm Thiền cũng xin chúc đạo hữu Thanh Mai sống trong chánh niệm và tỉnh thức. 🙂

  14. Mình mới đọc bài Pháp tu biết vọng không theo thấy đơn giản mà thật vi diệu. Cảm ơn TT! Chúc ngày an lành nhé bạn!

  15. Mình mới đọc bài Pháp tu biết vọng không theo thấy đơn giản mà thật vi diệu. Cảm ơn TT! Chúc ngày an lành nhé bạn!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: