Tấm lòng thiện lương

dta'1Giữa cuộc đời còn lắm bao điều thị phi, và nhiễu nhương, thì thật lành thay vẫn còn hiện diện những con người thiện lương, sống biết yêu thương, chia sẻ với mọi người xung quanh. Sau đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu câu chuyện về một trong những con người thiện lương như thế.

Một dĩa cơm có giá 25.000 đồng, nhưng cô bán vé số, chú chạy xe ôm chỉ có 10.000 đồng cũng được ngồi vào bàn ghế ăn uống như những thực khách khác. Hết 80% khách ở cái tiệm bé xíu này là người lao động nghèo, thế nên chị Trinh luôn thấu hiểu những khó khăn của họ.

Trưa nắng, ông già bán vé số đứng đắn đo trước quán cơm. Ngó chừng bụng đã đói cồn cào, ông già nửa ngỏ ý nửa dè chừng:

– "Cô ơi! Cô bán tui dĩa cơm, nhưng tui chỉ có 10 ngàn thôi!".

Không trả lời trả vốn, chị Trinh chạy vội ra đón ông già ngồi vào bàn. "10 ngàn cũng bán, có tiền là có cơm.

Chú ngồi chờ xíu, tui đem cơm ra ăn rồi tranh thủ đi bán. Mấy nay trời nắng ác chiến, sao chú không kiếm cái nón đội lỡ bệnh là mệt lắm à!".

Quán cơm ấm tình người gần 20 năm ở Sài Gòn: Nhiêu tiền cũng bán!

Gọi là quán cho sang, chứ thật ra quán cơm của chị Trinh (46 tuổi, người Sài Gòn) chẳng biển hiệu hay có mặt bằng gì sang trọng, chỉ đơn sơ một vài chiếc bàn ghế nhựa đặt dưới chiếc ô đã ngả màu thời gian bên trong con hẻm nhỏ.

Ngót nghét cũng gần 20 năm từ ngày chị Trinh bắt đầu công việc bán cơm này, khách hàng của chị đa phần là người lao động có thu nhập thấp.

Họ là những anh thợ hồ, những chú công nhân hay bác xe ôm, cô vé số… những con người mà cái ăn, cái mặc phải đong đếm từng ngàn.

Thế nên cái quán nhỏ đơn sơ của chị Trinh bao năm qua trở thành địa điểm thân quen của biết bao con người khốn khó.

Ở khu vực trung tâm thành phố này để tìm được một tiệm cơm với giá bình dân không phải chuyện đơn giản.

Kinh doanh thì chỗ nào cũng vậy, có đủ tiền thì vào ăn, không đủ tiền thì mời đi nơi khác. Thế mà ở quán của chị, 5 ngàn, 10 ngàn, hay không có ngàn nào đều được chị tiếp đãi như thượng khách.

Chị đon đả hỏi anh thợ hồ nhiêu đây cơm đủ chưa, chưa đủ thì để chị xới thêm, rồi đồ ăn nhiêu đây vừa chưa hay để chị thêm miếng thịt. Chị cười hì hì với mấy anh thợ áo quần còn lấm lem bùn cát như thể người thân trong nhà.

Bán buôn bao nhiêu năm, chị nhớ luôn nết ăn của từng vị khách.

"Mấy ông thợ hồ làm cực nên phải cho thêm cơm, đồ ăn nhiều một chút để lỡ chiều đói thì tội nghiệp. Mấy ông sơn tường thì ăn ít hơn. Mấy cô phụ nữ thì cho nhiều rau, ít cơm" – chị liệt kê răm rắp thói quen ăn uống của từng khách.

Đó là chưa kể mấy cô bán vé số phải nuôi con nhỏ ở nhà, chị phải xới nhiều cơm, rồi cho thêm bịch cơm thêm để về mấy mẹ con chia ra ăn.

Chị kể: "Em nghĩ coi 3 mẹ con mà ăn có 1 hộp cơm thì sao mà no.

Thành ra mẹ phải ăn ít lại để phần cho con, mà đi bán vé số cả ngày ngoài trời mệt lắm chứ bộ, nên lúc nào chị cũng cho thêm cơm để mấy mẹ con no thêm một chút. Kệ đi, mình cũng nghèo nhưng nhiều người còn nghèo hơn mình".

Nghĩ vậy nên thương, rồi nhiều lúc thấy ai khó khăn quá chị mời cơm luôn khỏi tính tiền. Hay như mỗi lần bán xong mà còn dư cơm canh, chị để mọi người tự vào lấy cơm chan canh mà ăn, không lấy tiền.

"Còn cơm còn canh thì để mọi người ăn có mất mát gì đâu, chứ mình đem bỏ cũng mang tội mà em" – chị nói nghe nhẹ như không.

Cũng từng phải bươn chải buôn gánh bán bưng ngoài vỉa hè, góc chợ thế nên chị hiểu những vất vả của người lao động, hiểu rồi thương nên chẳng bao giờ chặt chém hay tính toán so đo với khách.

Có lần mấy anh thợ hồ ăn xong rồi đứng dậy đi luôn quên trả tiền mà chị Trinh cũng không để ý, một hồi sau mấy ảnh lật đật chạy lại nói: "Chết! Nãy em quên trả tiền cơm".

Chị cười với tôi: "Đó em thấy hông, quên là người ta tới trả liền hà chứ đâu có lừa lọc nhau chi mấy chục ngàn".

Sài Gòn ở đây nè – trong con hẻm nhỏ xíu nơi con người ta đối đãi với nhau bằng cái tình, cái nghĩa

Anh Kiệt và chị Trinh cưới nhau thấm thoắt cũng hơn 20 năm. Đứa con gái đầu nay đã là sinh viên năm cuối Đại học Quốc Gia TP.HCM.

Hồi đó anh Kiệt làm việc trong trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, chiều chiều dẫn tụi nhỏ qua ăn bún bò của chị Trinh, riết rồi thương nhau hồi nào không hay.

Anh chị về với nhau, cùng gầy dựng nên tiệm cơm này. Sáng anh chở chị ra chợ mua nguyên liệu, rồi chạy về nhà chuẩn bị bếp lửa cho chị về nấu.

Trưa dù đang đi làm ở đâu anh cũng chạy về phụ chị bán cơm. Anh tâm sự: "Mình buôn bán đâu có lời bao nhiều nên đâu dám thuê người làm, nên buổi trưa anh tranh thủ chạy về phụ chị".

Làm vợ, làm chồng nhau hơn 20 năm trời mà ngộ cái là anh chị chẳng bao giờ gọi nhau là anh ơi em ơi, hay bà ơi ông ơi.

Họ gọi nhau bằng tên: "Kiệt ơi!", "Trinh ơi!", nghe thật thà mà dễ thương. Khách ghé ăn cơm, anh Kiệt gọi:

– Trinh ơi! Ở đây một dĩa cơm cá hú nghen!

– Trinh ơi! Tính tiền cho khách nè!

– Trinh ơi!…

Vậy đó mà anh Kiệt và chị Trinh đồng cam cộng khổ từ quán cơm nghèo nuôi cô con gái ăn học tới đại học.

Chị cười kể: "Con nhỏ học giỏi lắm! Anh chị cũng ráng không để con cái nó giống mình, cực khổ mà không có bạn bè, tối ngày ru rú bán buôn".

Chị Trinh không có nhiều bạn bè, nhưng chị có rất nhiều người thân.

Đó là những anh thợ hồ, những cô vé số, những chú xe ôm – dẫu họ chỉ là "người thân thời vụ", bởi xong công trình hay chuyển chỗ trọ thì họ lại đi nơi khác, ăn cơm của một tiệm khác. Nhưng có quan trọng gì đâu nhỉ, thương thì 1 ngày cũng thương mà.

Chị thẹn thùng tâm sự: "Nói ra sợ em cười chứ chị sinh ra lớn lên ở Sài Gòn, tính ra là người Sài Gòn gốc đó chứ bộ mà có biết Sài Gòn là gì đâu.

Nhỏ lớn chưa biết Đầm Sen, Suối Tiên là gì, cái toà nhà bông sen gì mà cao nhất thành phố chị cũng chưa được nhìn thấy. Quê mùa thấy ớn luôn!".

Tôi cười. Nhưng chị Trinh ơi! Sài Gòn đâu phải ở Đầm Sen, Suối Tiên hay toà nhà Bitexco. Sài Gòn ở đây nè, trong con hẻm nhỏ xíu thanh bình này – nơi con người ta đối đãi với nhau bằng cái tình, cái nghĩa.

Câu chuyện thiện lành trên đã nhanh chóng được lan truyền rộng khắp các trang mạng xã hội và những tiếng lời tán thán, ngợi khen đã không ngừng vang vọng lên.

Cuộc đời là vậy, nhưng dù cuộc đời có như thế nào đi nữa, mỗi người chúng ta cũng đều cần đến một sự tỉnh giác nhất định nào đó để có được thái độ, và cách hành xử hợp tình hợp lý nhất có thể. Và để có được điều này có lẽ là chúng ta cần phải có được nhận thức đúng đắn về cái tôi. Cái tôi chỉ là do vô vàn các yếu tố khi đủ duyên thì hội tụ thành, khi duyên tiêu tán thì tan biến mất, cái tôi chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ, cái tôi không thật có, thì cái gọi là của tôi cũng không thật. Khi có nhận thức như vậy, chúng ta sẽ dần vơi giảm ái ngã, vốn dĩ là nguồn gốc của tham, sân, si, của mọi khổ đau trong cuộc đời. Khi có nhận thức như vậy, thì khi có những ý niệm, hay xúc cảm lăn xăn hiện lên trong tâm tư, chúng ta chỉ cần nhìn, nhìn, và nhìn thẳng vào chúng, chỉ nhìn mà không tham đắm, không đè nén, không diệt trừ, không lãng tránh, cũng không mong cầu bình yên, nhìn để thấy được các tiến trình sinh khởi, lan tỏa, tăng giảm cường độ, và dần tan biến mất của chúng. Trong khi tọa thiền, chúng ta nên chú tâm vào một điểm trước mặt, có thể chọn một điểm trên chóp mũi. Trong khi chú tâm như vậy, nếu vọng tưởng, xúc cảm thị phi, và cơn đau có khởi lên nhè nhẹ, chúng ta có thể thản nhiên bỏ qua chúng, đừng để ý đến chúng, vẫn tiếp tục chú tâm tại một điểm trên chóp mũi, chúng có hiện lên rồi sẽ tự tan, nhưng khi vọng tưởng, xúc cảm thị phi, và cơn đau khởi lên quá mãnh liệt, thì lúc này, chúng ta có thể lùi về một góc chuyển sang theo dõi hơi thở vào ra một cách tự nhiên nơi mũi, đừng bận tâm đến chúng, hoặc chúng ta có thể chuyển sang nhìn thẳng vào chúng, rồi chúng cũng sẽ tan. Khi vọng tưởng thuộc về thế giới nhị nguyên phân biệt đối đãi giữa có không, được mất, hơn thua, phải quấy, trong ngoài, đẹp xấu, thiện ác, vui buồn, thương giận… tan mất, khi đó chỉ còn lại duy nhất niệm vi tế tại chóp mũi, chúng ta cần nên buông xả cả niệm vi tế này, cần thêm một bước vượt qua tâm thái này, nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng cần phải một bước nhảy qua, như khi trèo lên cây một trăm thước, khi trèo lên là còn có cây để trèo, trèo tới đầu sào chót ở trên, phải nhảy qua khỏi mới được, nhảy khỏi cho tan nát tâm phân biệt, chấp trước vi tế, để không rơi vào không, năng giác sở giác đều không, mọi thứ đối đãi dứt bặt, nhảy qua khỏi liền thể nhập vào bản tâm hằng thanh tịnh, rỗng rang, và sáng tỏ, thường hay biết mọi sự vật, hiện tượng nhưng không khởi ý phân biệt. Từ tâm thái này chúng ta sẽ thể phát khởi ra những ý nghĩ, lời nói, và hành động đúng đắn đem đến lợi lạc chân chính cho không chỉ bản thân mà còn cho cả mọi chúng hữu tình xung quanh.

————

Tham khảo: soha.vn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: